Tags

Việc giảm trạng thái ngoại tệ xuống lần này có thể là động thái thể hiện vấn đề ổn định tỷ giá và siết dòng tiền USD là vấn đề hết sức quan trọng trong năm nay. Một số suy nghĩ:

* Đới với quản lý hệ thống NH, có thể SBV nhận thấy rằng, quy mô vốn chủ sở hữu và Tổng tài sản đã tăng quá nhanh trong thập niên qua, đã tạo nên mức tăng trạng thái tuyệt đối và những rủi ro tiềm ẩn phía bên trong Tổng tài sản này (chuyển đổi trạng thái, cho vay USD với nợ xấu và dòng tiền thu nhập bằng USD không ổn định, lệch kỳ hạn), gây nên những bất ổn về tỷ giá. Theo quy mô Vốn CSH hiện tại của hệ thống NH, 20% tương đương với hơn 71 nghìn tỷ VND, tức khoảng 3,4 tỷ USD, giảm khoảng 1,7 tỷ so với trước điều chỉnh và giảm so với mức khoảng 4,3 tỷ USD trong năm 2010. Chiếm khoảng 3% GDP và chỉ 1,7% tổng kim ngạch XNK.

* Việc điều chỉnh này, trong ngắn hạn sẽ tạo nên những phản ứng tức thời đẩy tỷ giá lên cao, tuy nhiên, theo tôi dần dần sẽ đi vào ổn định, sự ổn định này trước tiên xuất phát từ kỳ vọng và niềm tin vào việc giữ được tỷ giá ổn định bằng các chính sách của SBV. Điều này xảy ra do một số yếu tố hỗ trợ: SBV đã tạo được một hành lang cho việc chuyển sang mua/bán thay cho vay/cho vay USD; đã có những quy định siết dòng tiền vay USD vào một mục đích cụ thể hơn (tức chỉ đối với đối tượng có nguồn thu nhập là USD); SBV đã có một cơ sở dự trữ ngoại tệ tương đối hơn lúc trước để có thể sẵn sang can thiệp. Về kỳ vọng, điều này cũng cố vững chắc hơn sự ổn định của VND cũng như giảm tình trạng ngoại tệ hóa ở VN.

* Cũng có thể, với những kỳ vọng về dòng vốn đầu tư vào VN, SBV giảm trạng thái là một sự cẩn trọng trong việc điều hành tỷ giá và cung ứng dòng vốn (VND) ra thị trường để tránh lặp lại vết xe đỗ như hồi 2007 (dòng ngoại tệ bên ngoài vào đột biến và NHTM cùng SBV mua hết mức có thể, cung ứng một lượng tiền VND khổng lồ ra thị trường…). Như vậy, dòng ngoại tệ trên thị trường đang hướng chảy theo một “con kênh” (chanel) với hai bờ hẹp hơn. Việc mua/bán USD sẽ khó hơn, SBV sẽ tác động ngay lập tức hơn.

*  Trong ý trên có nói rằng, tỷ giá sẽ “nhảy” một vài thời điểm trong ngắn hạn, điều này chỉ mang tính chất phản ứng tức thời và những cú đầu cơ của thị trường này. Theo tôi, sau đó sẽ ổn định và có khả năng giảm nhẹ. Bởi căn cứ vào xu hướng mua vào mạnh để tăng FX reserve hiên tại, các NHTM đang mua mạnh tạo nên trạng thái dương lớn và SBV sẽ mua lại. Khi hạn chế trạng thái cũng đồng nghĩa với việc các NHTM sẽ không thể mua nhiều hơn tại một thời điểm nếu SBV không có động thái mua mạnh ngoại tệ từ họ, giảm áp lực lên tỷ giá. Để theo dõi xem!

Giải thích việc tác động này, có thể hiểu như thế này: Về trạng thái ngoại tệ, nó như một “cái bình xăng con” – chứa một lượng trung gian tiền (USD) cung ứng cho thị trường hoặc thể hiện nhu cầu của thị trường tại một thời điểm. Và tỷ lệ quy mô “bình xăng” này dựa vào vốn chủ sở hữu của hệ thống NH. TTNT là vùng đệm giúp điều tiết tỷ giá, ví dụ tỷ giá căng thẳng (lên mạnh), NHTM có thể bán hết mức và mức 20% là bán khá lớn, đến lúc đạt khoảng 10 – 15%,…SBV có thể xem xét bán ra can thiệp (Fx intervention, bán cho các NHTM) để hỗ trợ tỷ giá theo mục tiêu, tương tự đối với trường hợp ngược lại (mua vào, một khi NHTM mua dần dần đến 20% theo trạng thái báo cáo – giúp tỷ giá giảm dần, thì SBV sẽ xem xét mua vào, việc “xem xét” or timing thời điểm này tùy thuộc vào trạng thái và mức độ tỷ giá trên thị trường có theo mục tiêu của SBV hay chưa, ví dụ, nếu NHTM đang mua vào dần dần full room mà SBV chưa có động thái mua từ NHTM, thì chắc chắn một điều, NHTM phải giảm tỷ giá mua xuống để hạn chế mua thêm vào – tỷ giá thị trường sẽ giảm xuống.

Tức là, với trạng thái ngoại tệ giảm, tác động của việc intervention sẽ nhanh hơn và sát hơn, khi thị trường chuyển sang mua/bán thay cho vay/gửi thì SBV sẽ trở thành…người mua bán cuối cùng kiểm soát một cách chặt chẽ hơn. Nhưng nó sẽ cản trở sự hoạt động linh hoạt, phản ánh kém tình hình thị trường ngoại hối hơn do key factor lớn (và rất lớn) lúc này là hướng về dòng tiền can thiệp từ SBV chứ chưa phải là lực cung cầu của thị trường bên ngoài – tức là càng tăng cường sự can thiệp của yếu tố chủ quan hành chính hơn.

* Việc mua USD làm tăng FX reserve vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả, nhưng nguyên nhân mua USD còn xuất phát (theo tôi) là từ việc giữ tỷ giá ổn định khi VND đang có dấu hiệu lên, đồng thời cung ứng VND nhằm giảm lãi suất. Nguồn cung ngoại tệ trên thị trường có lẽ đang tương đối dồi dào khi những khoản “sai số” trên bảng hạch toán BoP (cán cân thanh toán) dần dần “xuất hiện” – (tức là) USD nắm giữ bên ngoài thị trường chợ đen/tại gia đang được gia tăng bán vào hệ thống (NHTM/SBV), đồng thời, lượng USD từ dạng tiền gửi có khả năng đang chuyển sang bán cho NH để nắm giữ VND với lãi suất đủ cao trong thời kỳ thực hiện các giải pháp mạnh về ngoại tệ (chống đô la hóa) đang thực hiện của SBV.

Trong chu kỳ khó khăn thanh khoản (VND), trạng thái ngoại tệ nhiều NH kém có thể bị âm mạnh (do việc chuyển đổi thành VND) và gây áp lực lên tỷ giá. Việc giảm trạng thái có thể là một động thái đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu lại bảng TKTS của họ. Lãi suất VND trên thị trường tiền tệ đang giảm mạnh và thanh khoản dần cải thiện, thì đây là dịp để họ cover lại trạng thái và đạt được mức theo yêu cầu trong vòng hai tháng (tới tháng 5 – theo tính toán như trên, mức trạng thái phải giảm là khoảng 1,7 tỷ USD, trong đó, giả sử hệ thống NHTM đang chiếm dụng khoảng 50% con số tối đa, vậy chỉ cần khoảng chưa tới 1 tỷ USD để bù đắp (tương đương chưa tới 20 nghìn tỷ VND), theo tình hình hiện tại, con số này là không lớn trong vòng hai tháng).

* Như vậy, việc giảm trạng thái ngoại tệ hiện tại có lẽ là giải pháp “dĩ hòa vi quý” đối với tỷ giá và lãi suất hết sức nhạy cảm như lúc này, đối với dòng tiền và cơ cấu bảng TKTS vững chắc hơn, đồng thời tăng sức mạnh của động thái chính sách (signal) intervention từ SBV – tăng vai trò. Nhưng cũng tăng sự can thiệp…

P/s: Những QĐ của SBV từ nữa cuối 2011 đến nay, tôi có cảm nhận rằng, tính hợp lý và quyết đoán là rất cao trong lúc vẫn đảm bảo được sự trung hòa các mục tiêu ngắn hạn và trung dài hạn.

Advertisements