Tags

, , ,

Bond yield có thể nói có những bước rớt nhanh và mạnh. Phiên đấu thầu hôm qua đánh dấu sự sụt giảm này, loại 3 năm ở mức 11,3 và 5 năm là 11,35, giảm đến 80bp so với phiên cuối năm trước. Loại 2y ở mức 11,49%/năm. Đặc biệt, lãi suất đăng ký thấp nhất xuống…10,95%. Tỷ lệ bid-cover vẫn duy trì ở mức rất cao (trên 4x) (xem thêm)

View tích cực chắc hẵn là đang chờ đợi (giảm ls), nhưng view tiêu cực có lẽ cũng thể hiện ra phần nào. Yield curve bao giờ cũng thế, nó chậm chạm nhưng…chắc chắn, là một tín hiệu vĩ mô không thể bỏ qua. Điều gì khiến yield giảm mạnh trong tương quan với chính nó (cấu trúc kỳ hạn) và tương quan với các asset khác (lợi suất TPCP chỉ còn bằng khoảng ½ lãi suất cho vay của nền kinh tế! Một điều hiếm thấy – xem hình bên dưới, và xu hướng, có lẽ sẽ giảm xuống cả hai biến!) đứng trên gốc độ kỳ vọng vĩ mô của nền kinh tế?

1. Lợi nhuận của nền kinh tế kỳ vọng sẽ thấp xuống. Điều này là nguy hiểm, và có hàm ý chính sách không thể chậm trễ hơn.

2. Dòng tiền ồ ạt vào trái phiếu chính phủ trong khi tín dụng khu vực kinh tế không tăng ắt hẵn đang thể hiện sự “co lại” của tổng cầu khu vực tư nhân.

3. Nếu phần lớn nhà đầu tư và tỷ trọng đầu tư vào bond là từ các NHTM, thì có thể thấy rằng, i. Lãi suất cho vay chưa đủ cao để có thể thực hiện đối với một bộ phận lới các debtors (chênh lệch ls cho vay và bond yield giãn ra), phần còn lại vững chắc hơn nhưng chưa có kế hoạch mỡ rộng sxkd do trong quá trình hồi phục. (Nói điều này hơi vô lý! Nhưng, con số hơn 50 nghìn doanh nghiệp phá sản, triển vọng đầu tư thêm không nhiều, với khoảng 32% có kế hoạch mở rộng kinh doanh và chỉ khoảng 40% DN có khả năng tiếp cận vốn, thì lãi suất cho vay không bù lại được những rủi ro tiềm ẩn và cơ cấu tài sản cần phải điều chỉnh). Tình hình thị trường đang thể hiện một sự dư thừa thanh khoản cục bộ, điều đó có nghĩa, sự sụt giảm lợi suất này sẽ kéo giảm lãi suất huy động xuống (cùng với các gói giảm lãi suất cho vay đang được các big bank công bố), thì, tỷ lệ nợ xấu khá cao sẽ càng kéo nhanh lãi suất huy động xuống hơn (chứ chưa hẵn đã được biểu hiện ở lãi suất cho vay trong môi trường này), kỳ vọng vòng lặp này sẽ kéo mặt bằng lãi suất xuống mạnh hơn. Bên cạnh đó, điều cũng đáng chú ý là nhiều chính sách (của SBV) đang buộc các NHTM tăng tài sản tốt (như hạn chế tín dụng, tăng TS thanh khoản,…)

4. Kỳ vọng một chu kỳ nới lỏng và ổn định xảy ra trong ngắn hạn, thử quan sát, loại 2 năm chuyển biến chậm hơn so với loại 3 và 5 năm, trong khi các yếu tố tác động đến sự dịch chuyển lợi suất ngắn hạn là lạm phát và lãi suất (chính sách, và lãi suất thị trường) đã khá rõ ràng). Nếu phần nhỏ nhà đầu tư vào bond còn lại là ngoài các NHTM, thì có nghĩa, TTCK vẫn chưa có lối ra rõ ràng và ổn định.

5. Vấn đề thâm hụt ngân sách sẽ cao trong 3 – 5 năm tới, nhưng chắc chắn sẽ được mỗ xẻ và trong xu hướng giảm dần. Tuy nhiên, vấn đề nợ công vẫn là lo ngại. Có lẽ biến chuyển yield curve cũng đang e ngại điều này, lợi suất cao kéo dài trong 3 năm qua thực sự là một gánh nặng của ngân sách và có thể vượt quá khả năng chịu đựng.

5. Nhà đầu tư nước ngoài tham gia là một điều cần chú trọng, dòng tiền này tích cực, rõ ràng là thế. Nếu các vụ như Vinashin sẽ gây nên một chút ảnh hưởng bên ngoài (Eurobond) thì thị trường local đang rất hấp dẫn với sự ổn định của tỷ giá được show ra bằng yếu tố vĩ mô và cam kết khá vững chắc của cơ quan điều hành (SBV), lợi suất lại rất cao.

6. Tất cả các vấn đề trên đều không đúng, có lẽ điểm này hợp lý! Vì lợi suất giảm nhanh nhưng chưa phải thấp, cũng chỉ mới xấp xỉ bình quân trong 3 năm khủng hoảng, có nghĩa là, điểm trước khủng hoảng vẫn ở trạng thái pending. Chỉ là trong quá trình làm cân bằng lại giữa Financial asset với real asset thôi! Những cơ sở của quá khứ không còn hiệu lực!

7. Chiến lược đầu tư nào ở trạng thái này?….!

Tôi tính spread dựa trên Ls và yield bình quân năm (12 tháng) Giai đoạn trước 2008  cực thịnh của CSTT mở rộng, lạm phát khá thấp, NS thâm hụt được tài trợ bằng một cơ chế in tiền liên tục (monetizing debt), nắm TP chắc chắn được lợi với lợi suất yêu cầu khá thấp. từ 2009 trở đi có thể là hậu quả. Việc Ngân sách thâm hụt tích lũy tăng nhanh, nhu cầu vốn TPCP lớn, trong chừng mực nào đó, lợi suất có thể bị “giữ” lệch với bản chất của nó, trong khi đó, dòng vốn xã hội bị chèn ép, các vấn đề khác như thanh khoản, đua lãi suất, lạm phát, đặc biệt là cầu vốn và mức độ rủi ro của tín dụng (nợ xấu, lựa chọn nghịch, rủi ro đạo đức) trong môi trường thắt chặt khiến chênh lệch tăng lên rất mạnh.

Advertisements