Tags

, ,

Hợp nhất 3 NH với sự hỗ trợ và điều phối toàn diện của BIDV sẽ tạo nên một NH với quy mô rất lớn.

Trên quan điểm tái cấu trúc do khủng hoảng, thì mọi thứ đều bắt nguồn từ bảng TKTS, tức là tái cấu trúc bảng TKTS. Với một NH, là xử lý nợ xấu và “xóc” lại chênh lệch thanh khoản vốn rất yếu của NH cũ. Với dòng tiền quy mô lớn hơn, đây là vấn đề khó. Và cũng vì vậy, SBV phải vào cuộc với đại diện là BIDV để tạo ra một cam kết mới đối với thị trường và nhà đầu tư. Trước tiên là sự cam kết về mức độ an toàn, sự nghiêm túc và niềm tin. An toàn là sự bảo lãnh đối với các đối tác (chủ nợ và nhà đầu tư, đặc biệt, chúng ta biết rằng, tâm lý đối với người gửi tiền là quan trọng nhất, có thể dẫn đến bank run nếu không xử lý tốt.

Mặt khác, đối với nhà đầu tư, đặc biệt là các wholesale investors, luôn có một số điều khoản, trong đó quan trọng nhất là điều khoản về Sự thay đổi bất lợi (Material Adverse Change clause, đặc biệt là các liquidity event). Thay đổi về cổ đông và cơ cấu tài chính, cùng tình hình tài chính xấu đi là những thay đổi bất lợi, bước đầu của quá trình này là yêu cầu nâng giá trị TSĐB, rồi đến sự rút vốn và cuối cùng là rút vốn hàng loạt, người rút vốn ở đây cũng có thể là chính các NHTM đã cho vay, trái chủ, cổ đông sẽ không thực hiện tiếp cam kết (tăng vốn chẳng hạn,..) dù chưa đến hạn (họ được quyền như thế trong ).NênNHyếu lại càng yếu hơn. Tình hình sẽ phức tạp vô cùng. Đồng thời, sự hiện diện của BIDV hay SBV cũng là bắt buộc 3 NH được hỗ trợ phải thực hiện đúng những gì đã cam kết.

Như ông Nhi đã nói, trong chừng mực nào đó, SBV xử lý rất tốt vấn đề này. Vấn đề còn lại là đi vào tái cấu trúc cụ thể, trong đó, khó khăn nhất là duy trì hoạt động của NH sau hợp nhất, cũng như toàn hệ thống trong giai đoạn đầu sau hợp nhất.

NPL sau hợp nhất cũng khoảng 8 – 10% tương đương khoảng gần 6 nghìn tỷ. Trên quan điểm dòng tiền, một NH bé có nợ xấu 5% không đáng ngại bằng NH lớn có nợ xấu tương đương. Tình hình sẽ xấu hơn nếu đây là NH rất lớn và nợ xấu lớn, lấy ACB làm ví dụ, thì nợ xấu của SCB (sau hợp nhất) gấp 5 lấn ACB. Rủi ro thanh khoản cho toàn hệ thống là quá lớn nếu không xử lý được vì dòng tiền mang quy mô lớn hơn và tập trung hơn dựa trên các rủi ro thanh khoản đơn lẽ đó là chênh lệch kỳ hạn giữa TS Có và TS Nợ là quá lớn. “Chỉnh” lại chênh lệch này cũng như tạo dòng tiền hỗ trợ chênh lệch này là cần một thời gian dài.

Hơn nữa, nhìn vào bảng TKTS của 3 NH này, TS Có khác là rất lớn, tổng cũng vào khoảng hơn 50 nghìn tỷ!  (rất cao so với TTS và so huy động), nhóm TS này bao gồm TS xử lý từ dư nợ cho vay đem về khai thác (như BĐS cho thuê lại, trên quan điểm đầu tư, đó là đầu tư BDS dài hạn, không có dòng tiền vào ngoài phí cho thuê, sử dụng tài sản!!), tài sản thế chấp cho các khoản vay,…do đó, mặc dù tỷ lệ cho vay/huy động không cao, nhưng chưa hẵn đã tốt cho thanh khoản!). Có lẽ, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự mất thanh khoản của 3 NH này. Xử lý nhóm này không phải đơn giản, đôi khi phải cần sự hỗ trợ từ chính sách khác (như thị trường BĐS chẳng hạn, hay tỷ lệ góp vốn đầu tư ra bên ngoài của NH sau hợp nhất để hỗ trợ DN thiếu nợ, trả TS về cho họ khai thác tạo dòng tiền lại cho NH, hỗ trợ các DN này tìm đối tác góp vốn, hoặc bán cho tổ chức khác,…

Vấn đề thanh khoản và bảo lãnh, cam kết được đặt lên hàng đầu, bởi nếu không xử lý được thanh khoản, tốt thất tài chính càng lớn do phải sale off các tài sản, trong đó có TS thu hồi xử lý nợ và bán nợ, bán dự án với giá rẽ mạt trong tình hình hiện tại. Khi đó, các NH phải tăng vốn chủ sở hữu hoặc SBV phải tăng cường vốn góp lớn hơn. Nợ xấu thì chắc chắn phải xử, khi xử lý nợ xấu, phục vụ mục tiêu ngắn hạn, nếu thanh khoản được hỗ trợ tốt, có thể có tổn thất khi phải bán với giá rất rẽ so với mệnh giá sẽ ít đi, một khi cân đối được dòng tiền, trong dài hạn, việc khoanh nợ, hay xử lý thu hồi nợ, mất vốn ít hơn, hầu hết các khoản nợ đều được đảm bảo bằng tài sản – bất động sản. 

Như vậy, bước đầu là từ SBV —> Tạo niềm tin và sự cam kết để thị trường hỗ trợ thanh khoản và tin tưởng —> Xử lý Nợ xấu và xử lý khối tài sản đi song hành với tình hình thanh khoản và tạo dòng tiền hiện tại <— SBV (BIDV) góp vốn (quy mô góp tùy đánh giá mức độ thuận lợi của thị trường). Song song với bước đầu cũng là bước thư hai, tức thay đổi về quản trị. 

Vấn đề chính từ sự hợp nhất 3 thành 1 này là tất cả các ngân hàng khác trong hệ thống vẫn còn yếu kém về quản lý – điều hành và nhất là quản lý rủi ro. Nếu muốn tồn tại và lớn mạnh sẽ phải có những thay đổi lớn và nhanh.

Nhóm cổ đông, nhiều thông tin cho rằng vấn đề hợp nhất 3 NH là khá dễ bởi họ cùng một nhóm nhà đầu tư. Đây là điều quá lo lắng, tôi hy vọng rằng, mục tiêu tăng tỷ lệ cổ đông mới phải càng nhanh càng tốt chứ không phải chờ đến 2015 mới có thểm hơn 30% như vậy. Hy vọng SBV phải “làm nhanh” vụ này, mặc dù đã có sự kiểm soát từ phía họ. Rào cản lớn nhất trong việc cũng cố nhóm lợi ích tác động đế tái cấu trúc là nợ xấu!

Đây không phải đơn thuần là thương vụ tự nguyện của 3 ngân hàng mà là một nhiệm vụ “giải thoát” vừa có tính cục bộ giữa 3 ngân hàng và những nhóm khách hàng đang là những con nợ lớn có ít hoặc không còn khả năng trả nợ, vừa phi cục bộ để có sự ổn định chung của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. 

Về “góp vốn”! SBV có được góp vốn? BIDV thì tất nhiên được, nhưng thông tin như đã đưa thì SBV góp vốn thông qua BIDV có bị vi phạm luật NHNN và các TCTD 2010?

SBV là người cho vay cuối cùng, nhưng…chỉ là cho vay, chứ không phải quan hệ chủ sở hữu. SBV được phép mua bán các GTCG trên thị trường với các NHTM, nhưng không được góp vốn sở hữu. (Phía nhà nước, SCIC là người làm nhiệm vụ này)

Vậy nên, để  thực thi vấn đề tái cấu trúc một cách hiệu quả, và có cơ chế rõ ràng, tạo được niềm tin trên thị trường, tôi nghĩ SBV nên lập ra một quỹ giải cứu/ổn định/tái cấu trúc thị trường ngân hàng (chẳng hạn VBSF – Vietnam banking stability facility :)), quỹ này sẽ thực hiện chức năng cấp vốn cho các NHQD như là một phần ủy thác (chứ không phải cho vay), để họ tham gia vào các NHTM tạo chất xúc tác cho quá trình tái cấu trúc, bởi vì là một cơ chế, nên sẽ có các quy định rõ ràng về điều kiện, trách nhiệm, nghĩa vụ của bên được hỗ trợ, việc giải ngân, mua bán (tài sản thanh khoản, tạo thanh khoản), góp vốn và cả một cơ chế, quy định về quản lý vốn, giám sát thực thi, quy định thoái vốn sau này. Còn hiện tại, SBV góp vốn rồi quản lý, giám sát, đánh giá hiệu quả, các trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên như thế nào? thoái vốn như thế nào?

Quan trọng nhất trong quỹ vẫn là Quy định về kế hoạch tài chính, kế hoạch này sẽ dựa trên điểm mấu chốt của tái cấu trúc, đó là nợ xấu, thanh khoản và an toàn vốn. Thế nên, để hài hòa lợi ích của hai bên (cục bộ: các cổ đông của 3 NH, toàn cục: SBV góp vốn giải cứu là để ổn định thị trường tài chính và sử dụng có hiệu quả vốn nhà nước – tức của người nộp thuế) thì nhất định phải có yêu cầu khắt khe về việc phân phối lợi nhuận. Có nghĩa là, tất cả lợi nhuận của NH sau hợp nhất phải ưu tiên phục vụ việc tái cấu trúc, một khi nợ xấu, an toàn vốn chưa đảm bảo, họ không được chi trả  một đồng cổ tức (nếu vấn đề này không giải quyết được, thì lợi ích là quá lớn đối với một nhóm cổ đông lớn đứng đằng sau 3 NH này, “cắt” toàn bộ các quỹ khen thương ban Tổng Giám đốc. Giải cứu phải có cái giá của nó. Và cũng phải như thế, mới “tái” được cái tư duy quản trị.

Có quỹ giải cứu với cơ chế rõ ràng, trong đó BIDV là trung gian quản lý cũng giảm thiểu rủi ro cho hoạt động kinh doanh riêng biệt của BIDV (như một số lo ngại trước thời điểm xảy IPO). Cuối cùng, vấn đề có thể không dừng lại ở 3 NH trên.

Cá nhân tôi, vụ hợp nhất này quá tích cực!

Updated 13/12/2011: Nhóm lợi ích: Sự lũng đoạn của công ty sân sau (tất nhiên là từ một nhóm cổ đông thâu tóm)

Có thể thấy, “đường dẫn” đến với tín dụng Bất động sản là rất nhiều và phức tạp, SBV không thể kiểm soát hết. Từ chuyện phát hành TPDN (hiện đã được đưa vào dư nợ), chuyển mục đích sử dụng, repo bđs với công ty AMC. Làm dư nợ thực cho BĐS phìn to hơn con số thực kiểm soát, dòng tiền từ đó cũng đứt đoạn, NHTM gặp khó khăn thanh khoản khi BĐS đóng băng.

Một số thông tin mới đây cho rằng dư nợ tín dụng BĐS chiếm khoảng 8,3% tổng tín dụng của NH, nợ xấu của nhóm này là hơn 4,2%. Tuy nhiên, nhìn nhận lại vấn đề, có lẽ là lớn hơn nhiều. Đặc biệt, nhiều NH gắn liền với các cổ đông là tập đoàn BĐS!

* Repo BĐS với công ty AMC trực thuộc NH. Một hình thức cho vay BĐS nằm ngoài quy định về tăng trưởng tín và tỷ trọng tín dụng phi SX.

* Tăng vốn ảo (từ công ty huy động thông qua phát hành TPDN rồi góp vào lại NH, sau đó dùng tín dụng từ NH trả lại, vốn NH, công ty, vẫn cứ tăng ảo, trong khi các cổ đông nhỏ thì phải góp vốn thật, tiền gửi của KH được sử dụng vào các lĩnh vực chủ ý cá nhân của nhóm cổ đông)

Advertisements