* Từ tình hình các NH ở Châu Âu: Thị trường vốn (ngắn hạn và trung dài hạn) đều bị tê liệt. Các banks không thể phát hành bond, tiền gửi của khách hàng không tăng, trong khi đó, dòng vốn nóng trên money market (chủ yếu là American và European money market) và interbank đang suy giảm,…Trên FreeExchange có bài viết về thực trạng này. Các từ và cụm từ sử dụng phổ biến thể hiện sự xấu đi của dòng vốn là nhiều vô kể, thử hình dung, một bài báo nào mà sử dụng các từ này nhiều như thế? Các thuật ngữ chính cho thị trường vốn lúc này: showing signs of severe strain, dry up, run out of collateral, freeze, plunged, seizing up, blockage, pulled out, slip away, withdrawing,…để mô tả cho tình trạng “screw tightens”!!

6 dòng tiền chính funding cho hoạt động (shortage) của hệ thống NH đang siết lại như sau:

1. Customer deposit (core deposit): suy giảm

2. Issue bonds không thực hiện được do sự đóng băng của dòng vốn, cũng như thị trường e ngại rủi ro từ chính bản thân của NH phát hành (ví dụ, nợ xấu, hoặc đang nắm giữ lượng bond của các quốc gia có thể default)

3. Money market fund (từ Mỹ và Châu Âu, suy giảm nghiêm trọng, cùng với Chính sách không cho vay ra ngoài của một số nước)

4. Interbank thu hẹp dòng vốn

5. Central bank cho vay có hạn chế, hoặc các NHTM không đủ tài sản thế chấp/hoặc hết TS thế chấp cho các chương trình vay mượn từ CB.

6. “Liquidity swap”: Vay mượn các TS đảm bảo khả dụng từ các công ty, quỹ, tổ chức khác để dùng nó thể chấp cho CB vay vốn (tất nhiên, phí rất cao!)

7. Sự giới hạn của dòng vốn, tất cả mọi thứ (phá sản) đều có thể xảy ra và không có ngoại lệ.

Lãi suất sẽ tăng cao nếu như các NHTM không còn tài sản đảm bảo hoặc nhà cho vay tăng các điều kiện về TSĐB.

* Đến Thị trường ngân hàng của chúng ta:  trong chừng mực nào đó đã thể hiện điều này. Cả 6 dòng tiền đều trầm trọng! (trong đó, bỏ việc phát hành bond ra!) .Tiền gửi từ KH không tăng lên được (mục 1), trong khi đó, sự chênh lệch kỳ hạn lớn giữa dòng tiền ra và vào (như chênh lệch kỳ hạn tiền gửi – cho vay, nợ xấu) đã buộc các NHTM sử dụng tiền trên interbank và các money market fund (ở đây, như là các shadow bank, huy động từ các rich cash company, các công ty con của NH,…loại này suy giảm rất manh – khiến nhiều NH rơi vào khó khăn sau khi SBV triệt để áp trần 14%) – với tình hình ngày càng xấu đi, thì TSĐB được sử dụng trở lại đối với giao dịch này. Nhưng, TSĐB vẫn có sự giới hạn và chưa đủ để các NH lớn ở VN có thể mở két cho vay, từ đó, sinh ra sự tắc nghẽn (blockage) của dòng tiền: kẻ dùng không hết, người thì không có.  Thị trường OMO (mục 5) vẫn hoạt động với liều lượng thấp (vài nghìn tỷ) nhưng, đa số người bid là các NH nhỏ và kém với lượng GTCG ít ỏi và đang cạn kiệt nếu không nói là hết, các NHTM lớn không cần vốn này bởi họ đang dư thừa! Thị trường TCV càng khó khăn hơn bởi các điều kiện ngặt nghèo và nhạy cảm, khiến các NH không thể tham gia.

Thế là liên NH vẫn là kênh vốn chính yếu, nhưng trở thành thị trường tín dụng nóng, nếu không gọi là tín dụng “đen” với lãi suất cao (nhưng không khai báo), các điều kiện đảm bảo và thanh lý nghiêm khác, gia hạn nợ, xử lý TSBĐ,…Từ đó, mục số 6 ở trên là một trong những nguyên nhân gần đây, lãi suất của tất cả các loại tài sản, tiền tệ đều tăng mạnh: Ls bond (repo), Ls USD, vàng, các loại ngoại tệ khác,…Trong đó, vàng và USD là chủ yếu. Tất nhiên, hệ lụy của hoạt động này là, trạng thái vàng, USD của một số NH bị vượt giới hạn và mất thanh khoản do các khoản phải thu khác (tài sản đem đi thế chấp – vàng, USD) bị xử lý khi không thể trả VND, buộc phải mua lại với mọi giá, càng làm tỷ giá và giá vàng bị tác động. Sự tắc nghẽn càng tiếp tục lên cao, khi nhu cầu USD đang lớn, các NH thừa tiền VND chỉ sử dụng vào việc mua USD từa SBV phục vụ hoạt động, càng làm suy giảm cung tiền trên interbank.. Các hoạt động ký kết hợp tác hỗ trợ vốn tăng lên – đặc biệt để thực hiện các khoản cho vay “liquidity swap” (cho vay GTCG, cầm cố hồ sơ tín dụng), hoạt động mua nợ,…(phát sinh điều này, bởi vì, bản thân các NHTM lớn có thể cho vay GTCG, để các NH nhỏ tự thực hiện việc vay lại, chứ chưa thể cho vay cash – bởi họ còn nhiều nhiệm vụ khác). (các khoản mục TS Có, TS Nợ khác trên bảng TKTS của các NH có sự biến động mạnh!)

Đó là dòng luân chuyển thể hiện cho tình hình lãi suất, thanh khoản, tỷ giá trong thời gian qua. Điều này càng trầm trọng, bởi, với quyết tâm tái cấu trúc hiện tại, SBV như thể hiện rằng, bất kỳ NH nào cũng không ngoại lệ, không còn an toàn tuyệt đối trong sự bao bọc của họ như trước đây (tức có thể “biến mất” khỏi thị trường), điều này đã tạo nên sự “đối xử” quay ngoắt 180 độ giữa các bank với nhau (như đã nói ở trên, không cho vay, cho vay có thể chấp,…).

Điều này là nghiêm trọng, vậy SBV nên làm gì để khai thông sự bế tác này: niềm tin, dòng vốn, sự nghi ngờ,…?

Update 30/11/2011: Món “nợ đồng lần” giữa các ngân hàng:

Hiện tượng một số NH nhỏ và trung bình trong hai năm qua đã “kích” TTS lên nhanh (để đủ độ lớn?!) bằng nguồn vốn wholesale (có những NH tỷ lệ vốn huy động LNH và vốn huy động từ TCKT & Dân cư gần như là 1:1!!!). Chính điều này, khi thị trường LNH và khả năng cung ứng vốn của SBV siết chặt, thì tất nhiên sẽ gây nên hiện tượng mất thanh khoản dây chuyền, nếu một mắt xích trong số đó bị vỡ. Tất nhiên, hiện tượng xảy ra không chỉ do một mắt xích và là rất nhiều! Điều đáng nói là dòng vốn wholesale này cũng phải được sử dụng để phục vụ cho customer deposit do khả năng huy động sụt giảm (đặc biệt sau khi làm nghiêm trần 14%) và lệch kỳ hạn lớn.

Tôi …sợ từ cân đối nguồn tốt của một vị TGĐ phát biểu ở trên! Tốt nhưng…rất bị động và không thể tự quyết! Đó không phải là phát biểu khôn ngoan (tất nhiên là quản trị thanh khoản quá kém). Tại sao ông không đặt ra scenario là trong tháng tới, nếu core deposit có thể đạt recovery là 80% hoặc 90% thì sao? Trong khi dòng tiền thu từ tín dungj chỉ vào được khoảng 90% (tức haircut ratio 10%). Nguồn nào sẽ bù đắp vào phần thanh khoản liên NH và bù cho phần thanh khoản thị trường 1? Chỉ có duy nhất là liên NH!!!

(Tôi nói là 80% hay 90% vì thực tế, vốn huy động từ TCKT và Dân cư chủ yếu có kỳ hạn ngắn và rất ngắn, trong một tháng, ví dụ, một NH trung bình cũng phải huy động với doanh số….hơn 30 nghìn tỷ, trong khi số dư huy động trong tháng không tăng, hoặc giảm nhẹ – có nghĩa là một ngày họ chỉ lo tập trung gia hạn cho bằng được bình quân 1000 tỷ đáo hạn của các khoản tiền gửi, chứ chưa nghỉ tới việc net off tăng thêm!!! Tất nhiên, rủi ro thanh khoản là có ngày họ phải trả 2.000!!!)

Hiện tại là thời điểm rất nhạy cảm, có lẽ, thị trường (tiền gửi, dân cư & TCKT) đã phản ứng với yếu tố minh bạch, cụ thể là đã bắt đầu e ngại với những NH bị nghi là yếu, kém, hay nợ xấu cao,…tiền gửi có thể xụt giảm. SBV cho TCV chỉ ưu tiên trả nợ Thị trường 1 là hoàn toàn chính xác. SBV cũng vừa giáng một cú tát rất mạnh xuống các NH yếu kém, bằng trần Ls, bằng G12, giới hạn chuyển đổi vàng và ngoại tệ khác sang VND, nâng điều kiện TCV (kiểm soát từng dòng tiền ra, không được giải ngân, chỉ dùng TCV cho khoản chi trả trên TT1,…). Và sắp tới là TT35 về công bố thông tin có hiệu lực, nếu truyền tải được các thông tin từng NH riêng lẽ đến thị trường, sẽ có sự phân hóa mạnh nữa.

Có lẽ đây là bước khởi động cho Tái cấu trúc, SBV đang gây sức ép, có sức ép mới lành mạnh, SBV cũng là người tạo xúc tác và điều tiết môi trường, còn lại, sẽ có thời gian đệm cho các NH tự cấu trúc lại bảng TKTS, chiến lược,…để tồn tại. (Thử hình dung, NH hoạt động làm sao nếu tiền gửi cứ bị rút, liên NH không vay được? Cổ đông nào góp vốn thêm?.Hiện tượng này đang xảy ra, Tái cấu trúc cũng là gia tăng cơ chế kỹ luật, điều tiết, kiến tạo điều kiện  để thị trường tự quyết định vấn đề sống còn của Doanh nghiệp)

 

Advertisements