Tags

Nhân thông tin về Kỹ luật vi phạm lãi suất (đơn lẽ) và rủi ro hệ thống NH lên mức cao (hệ thống).

Chúng ta hay đặt vấn đề dựa vào thói quen, chứ chưa dựa vào bản chất của hiện tượng. Tức là, báo chí, hay suy nghĩ rằng, lãi suất lên cao, thị trường tiếp cận dòng vốn khó, là do thanh khoản thiếu. Rồi đề ra bài toán giải quyết thanh khoản thiếu, rồi liên tưởng đến các NH thiếu thanh khoản, rồi …tái cơ cấu chẳng hạn (nào là dẹp bỏ các NH nhỏ, giải quyết vấn đề nợ xấu, tăng vốn,…). Nhưng có lẽ là sai lầm và chúng ta đã giải quyết nó theo hướng sai lầm trong nhiều năm nay mà vẫn dậm chân tại chỗ, thậm chí ngày càng khó khăn hơn do quy mô của những sai lầm này ngày càng cao – càng khó dẹp bỏ. Người ta hay đặt tình huống cụ thể mà không có những đánh giá mang tính tổng thể. Thanh khoản là một hiện tượng thị trường, phải đặt trong tình trạng thị trường, mở rộng ra là hệ thống các định chế tài chính và toàn bộ thị trường tài chính ngân hàng.

Tôi lấy ví dụ, chỉ riêng giải quyết vấn đề thanh khoản, các chuyên gia đều cho rằng, thanh khoản thiếu! Vậy thế nào là thanh khoản đủ, làm thế nào để thanh khoản đủ? Dự trữ thanh khoản cao? Tăng vốn lớn? Không hẵn! Khi tăng vốn đủ, hay sáp nhập, hợp nhất tạo nên NH mới thì sẽ tạo ra những cái thiếu mới theo quy mô mới. Phải đặt trong tương quan với toàn bộ thị trường. Đó là một cổ máy, vận hành dựa trên các mắt xích tương tác một cách trơn tru nhưng tách bạch, rõ ràng thì mới giải quyết được.

Trở lại vấn đề thanh khoản đủ, tạm gọi là như vậy để phân biệt với thiếu thanh khoản? CóNHnào duy trì một lượng tiền mặt hay tài sản thanh khoản thật cao để đối phó với những rủi ro do thanh khoản gây ra? Là một DN, họ tận dụng hết tất cả khả năng có thể để sinh lợi, đó là áp lực lớn nhất. Vốn năm này sang năm khác vẫn tăng, quản trị hay tổ chức vẫn thay đổi, nâng cấp, những mô hình quản lý thanh khoản hiện đại vẫn được áp dụng…nhưng vấn đề thanh khoản kéo dài từ năm này sang năm khác, có khá hơn không? Đó là do hành vi chi phối. Mỗi năm có một số giải pháp. CácNHvẫn sống xót, vẫn tiếp tục mở rộng, lãi suất cao, họ vẫn có thể tiếp cận được nguồn trong chừng mực nào đó, cuối cùng vẫn qua được giai đoạn khốn khó. Quy mô tăng cao, nhưng bản chất và thái độ vẫn như cũ, trong môi trường bình thường (cung tiền mở rộng) thì tất nhiên là không có chuyện gì, môi trường khó khăn, họ – các NHTM vẫn có thái độ và suy nghĩ rằng, vẫn có thể vượt qua mà không tổn hại, nên tất nhiên, sẽ không có những thay đổi về chất.

Thị trường có những lúc lãi suất lên cao, đó là lúc khó khăn, và với lượng thanh khoản duy trì ứng xử tại thời điểm hiện tại, các nhà quản trị NH cho rằng, có dù cao thì vẫn có khả năng tiếp cận, vượt qua thế thì tại sao phải lãng phí tài sản sinh lợi duy trì thanh khoản. Làm được điều này là do mọi phí tổn của rủi ro thanh khoản (mang tính toàn hệ thống) được dồn vào nền kinh tế, chứ không phải môt NH nào chịu đựng  đơn lẽ và/hoặc phải chịu đựng phí tổn đơn lẽ chứ không thể chuyển sang nền kinh tế nói chung. Cuối cùng, sinh ra, phần lớn hệ thống NH đều như thế rồi dẫn đến toàn bộ nền kinh tế phải theo như như vậy (ví dụ, lãi suất, tức không có sự lựa chọn về lãi suất, trong khi nếu phân loại tốt, sẽ có những NH có Ls cho vay thấp, NH nào cho vay cao chắc chắn không thể cho vay được)

Tạo điều kiện để thị trường quyết định: Nói chung, thanh khoản sẽ không bao giờ được gọi là đủ! Nếu không thiết lập được một thị trường kỹ luật và minh bạch. Tức là, NH sẽ phải trả giá cho những gì họ gây ra một cách đơn lẽ, chứ không phải quy đồng cả nhóm. NHNN trừng phạt NH vi phạm LS mới đây là một trong những hướng như vậy, vấn đề là cần mở rộng ra đối với các quy định khác về an toàn, thanh khoản, hay chất lượng tài sản.

Một trong những cách làm đầu tiên là tăng vốn theo kịch bản (stress test). Tại sao môi trường dự đoán là khó khăn mà chúng ta không có động thái nào (các NH Châu Âu hay Mỹ, khi đi vào khủng hoảng, đều có những cuộc kiểm tra, tăng vốn là một trừng phạt bằng chi phí, không tăng được vốn phải nhất thiết đưa vào dạng kiểm soát đặc biệt và phải chịu tổn hại nặng bằng những hạn chế cụ thể trong lĩnh vực hoạt động.

Mới đây, NHNN ban hành thông tư “về sự minh bạch” (TT35) khi công bố các chỉ tiêu tài chính, cần thiết hơn nữa là cho phép những tổ chức xếp hạng, đánh giá NH (CRA) cùng với NHNN (kiểm soát) công bố một loạt các chỉ tiêu tài chính cụ thể từng ngân hàng một cách đều đặn (tôi nói đều đặn, vì đó là một quá trình để không tạo nên những cú shock dẫn đến bank run, đồng thời tạo được áp lực cần thiết cho chính NH yếu có những thay đổi cần thiết). Trước tiên là những chỉ tiêu tuân thủ (complied theo mức độ – tức đang cách các chỉ tiêu quy định ở mức nào, bao gồm tỷ lệ thanh khoản, chất lượng tài sản; công bố thêm tỷ trọng phân bổ tài sản, hiệu quả hoạt động cùng với hệ thống báo cáo tài chính được public). Thị trường, người gửi tiền, nhà đầu tư  hay các NH khác nhìn vào đó, có cho mình những đánh giá nhất định và thị trường lúc này sẽ có những phân loại NH cụ thể hơn.

NHNN không trực tiếp phân loại, chỉ công bố thông tin, phân loại cuối cùng là do thị trường quyết định. NHNN chỉ làm chính sách và duy trì kỹ luật “thép”.