Tags

,

[Bài báo này này trên SGT có nói về việ trích lập dự phòng, cần phân biệt Chi phí dự phòng (ăn vào lợi nhuận) và quỹ dự phòng, cũng như dự phòng có tác động đến dòng tiền hay không. Thấy có một số nhầm lẫn. Và cũng liên quan đến một entry trước là NPL nên  tôi note một số con số kẻo các bạn khác nhầm, tôi share ra đây cũng như thêm một số tác động khác của việc trích lập dự phòng đến dòng tiền hay CAR, xem như phần tiếp theo của entry trước) – xem thêm một số comments trên G+ của Ts. Giang]

* “Quan hệ” giữa trích lập dự phòng (reserves), chi phí dự phòng (provision expense) và lợi nhuận (income):

Tác giả bài báo có thể “đọc” hoặc “diễn giải” nhầm giữa Income statement và balance sheet (mối liên hệ giữa hai cái bảng này từ việc trích lập dự phòng hay mất vốn do nợ xấu đó là: Provision cost (của Income statement hay P/L) = Change in Reserves (Balance sheet) – Net Charge offs)

Khoản 700 bio và 1.687bio là khoản chi phí dự phòng mất vốn được trích lập trong kỳ: Provision for loans loss, đây là cost (tức là reduce income). Việc trích lập dự phòng cho những khoản nợ quá hạn được ghi nhận vào Reserves for loans loss – quỹ dự phòng rủi ro tín dụng (một contra-asset). Total reserves cuối 30/9 ở mức 6.955 tỷ (trong đó bao gồm cả khoản trích lập dự phòng riêng lẽ 100% của nhóm 5 là 4.939 tỷ (tất nhiên là tính luôn phần TSĐB định giá lại – tức nếu giá trị TSĐB tính lại quá lớn theo quy định thì khoản dự phòng sẽ bằng 0), phần còn lại là của nhóm khác và trích lập dự phòng chung). Còn nợ xấu nhóm 5 lên mức 4.939, so với cuối 2010 thì tăng lên thêm 1.339 tỷ, khoản này đã “phản ánh” vào Provision for loans loss trong 3 quý đầu năm (1.687 tỷ). Tuy nhiên, Provision for loans loss còn tăng lên do khoản net charge offs trong 3 quý đầu năm tăng thêm 347 tỷ (bao gồm new charge off là 507.8 tỷ và khoản recoveries charged offs previous period là 160.8 tỷ). Dòng tiền “thực” mất đi là 198.7 – 160.8 = 37.9 tỷ (net từ income cashflow và operating cashflow)

* Dự phòng và dòng tiền (Cashflow):

Đối với việc tác động đến cash flow (tức là tác động đến nguồn tiền thực có thể cho vay – như báo viết) thì việc trích lập dự phòng không tác động, trích lập dự phòng (Provision for loans losses) là một non-cash expense, nên không ảnh hưởng đến cashflow).

Nhưng nợ xấu mất đi thì tác động. Khoản mất đi bằng tiền thực (cash) tác động đến operating cashflow (như các khản mất đi từ quỹ dự trữ do phải xử lý, hoàn nhập khi dự phòng vượt quá tổn thất sau khi phát mãi,…) và income cash flow (các khoản mất ròng hoặc thu hồi lại từ những nợ đã xử lý khỏi bảng TKTS), thì khoản Resevers thay đổi mạnh (cũng như provision cost) sẽ thể hiện qua thêm một acct đó là Net charge offs và khoản net charge offs này ảnh hưởng đến cashflow nên ảnh hưởng đến việc cho vay hoặc sử dụng khác (outflow). Tuy nhiên, các NHTM VN đều có tỷ lệ Net charge offs to Loans ratio là rất nhỏ (do “rất khó” để chính thức loại một khoản cho vay hay từ bỏ hy vọng thu hồi từ một khoản cho vay, như sau khi DN phá sản, KH chết, hoặc loại hẵn ra ngoại bảng sau quá trình xử lý từ quỹ dự phòng đã 5 năm,…) nên tác động này là không nhiều. (Provision for loans loss (expense) = Changes in Reserves + Net Charge offs. Net charge offs = New charge offs – Recoveries of charged offs previous period). Trong dài hạn, việc duy trì ổn định các khoản provision này cân bằng với những khoản vốn mất từ cho vay (net charge offs) sẽ giúp quỹ dự trữ không quá thấp.

Trích lập dự phòng nhiều (resevers tăng lên) tác động đến provision cost tăng lên, làm giảm Income và tác động đến CAR (ie. retain return). Trích lập dự phòng nhiều cũng “ngụ ý” RWA tăng lên, ảnh hưởng đến CAR (mặc dù cái RWA theo quy định hiện tại – TT13 và TT22 không bao hàm yếu tố đánh giá theo độ rủi ro không thu hồi nợ này – tức chỉ lấy theo yếu tố sổ kế toán.). Nhưng, như vậy, “ngụ ý” ở đây có thể là NH sẽ hạn chế cho vay (outflow) để duy trì CAR không bị giảm xuống.

Tác động đến Cashflow nữa là Tax deduction (tác động đến income cashflow). Nếu trích lập lớn (tức đánh giá những TS rủi ro lớn) làm giảm lợi nhuận xuống, dòng thuế trong năm hiện tại sẽ giảm xuống. Trong khi đó, NH sẽ có lợi nếu thuế suất giảm (ví dụ, đã giảm từ 32% xuống 28% rồi 25%, có thể giảm tiếp xuống còn 20%?!)

Riêng việc Nợ nhóm 5 tăng rất mạnh cũng có đôi điều chú ý là trong Nợ nhóm 5, thì bao gồm cả các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý, việc trích lập loại này thì tùy vào khả năng của TCTD đó, chứ không quy định là trích lập 100% nên cũng khó nói, đặc biệt đối với các TCTD SOEs trong môi trường khó khăn của các DNNN hiện tại.

Một điều không phủ nhận là cả Interest Income và Interest expense đều tăng mạnh, nhưng NII đã tăng mạnh so với cùng kỳ. Điều này cho thấy interest spread tăng lên rất mạnh của NH này (đặc biệt, dư nợ tăng thấp!)

* Xem thêm các bài viết về NPL, Reserves, Provision for Loans Losses