Tags

, , ,

Lại chuyện Lợi nhuận NH và DN ở hai thái cực! Ở bài này đề cập đến chênh lệch giữa LS cho vay và huy động lớn (Interest rate spread  – IS)!!! Điều này là do:

1. Chênh lệch cao do… “môi trường”: Thực tế hiện tại, vấn đề mù mờ kém minh bạch “đục nước béo cò” từ LS cho vay vẫn bình thường trong khi áp trần Ls huy động.

2. Về kỹ thuật (ngoài chi phí nhân viên, chi phí lãi huy động), chênh lệch ở mức cao do thực thu (từ lãi) giảm xuống do nhiều yếu tố khác bên cạnh chi phí lãi, bao gồm Chi phí quản lý trên mỗi đồng tín dụng vẫn còn cao (cái này đang trong quá trình cải tiến quy trình, tinh gọn hơn), chi phí dự phòng rủi ro tín dụng (ít nhất là 0.75% dự phòng chung, cùng với dự phòng cụ thể, tổng cộng cũng trên 3%), về phía vốn, giá vốn thực bị “phình lên” bao gồm DTBB, dự trữ thanh khoản khác, và chi phí dự phòng rủi ro thanh khoản và lãi suất (khi cho vay, rủi ro thanh khoản sẽ khiến NHTM tốn chi phí để bù đắp)

Ở vấn đề số 1, nhiều NH lớn (đặc biệt NHQD và vài NHTM CP lớn) có NIM ở mức cao, mặc dù…tỷ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng thấp (đa dạng hóa dịch vụ, tỷ lệ tín dụng/tổng TS thấp, hoạt động tín dụng của NH không chiếm phần lớn Tổng TS). Điều này chứng tỏ, Interest rate spread ở mức rất cao (hay có thể nói LS huy động hoặc giá vốn bình quân là rất thấp). Vậy thì họ luôn ở thế thượng tôn của thị trường và sẵn sàng chấp nhận các đồng thuận về Ls như: “trần lãi suất huy động” một mức, trong khi LS cho vay thả – mặc dù cam kết đưa về 17 – 19%/năm. Và mỗi lần như vậy, họ được lợi rất nhiều mặt (đầu vào, đầu ra, thị phần tiền gửi, thị phần tín dụng,…)

Xem thêm:

P/s: NIM: Thu nhập Lãi thuần/TTS sinh lợi bình quân. Trong khi Interest Rate Spread đo bằng LS cho vay bình quân (Thu nhập lãi cho vay/Dư nợ bình quân) – Chi phí vốn bình quân (Chi phí lãi huy động/Huy động bình quân)

 

Advertisements