Tags

Viết thêm về lãi suất (xem: đừng tính đại). Entry này là cơ bản nhất của hình thức tính lãi gộp, thế nên, để dễ dàng nhìn vào và biết ngay Ls thực của mỗi trường hợp mình chọn, tôi tính ra luôn. Cách tính rất dễ mà các bạn Sinh viên năm nhất trong ngành đều phải tính. (sử dụng một số máy tính CFA thì càng nhanh hơn). Tôi post lên để cho “mẹ và các bác nội trợ” dễ so sánh 🙂 Tiếp theo là cũng thấy cái thực trạng Lãi suất trần nó như thế nào!

Sau vụ trần lãi suất (14%/năm) bị siết chặt, một số NHTM đã “tận dụng” tối đa các kỳ hạn ngắn hạn để tăng lên sát mức này. Việc tận dụng này ai cũng rõ là để lách trần, thu hút nguồn tiền gửi, tuy nhiên, nếu xét về mặt kinh doanh, có có cái lý của nó.

Trước tiên là lách trần 14%. NH sẵn sàng trả cho ngân hàng 14%/năm cho kỳ hạn 1 ngày, 2 ngày,…là không vi phạm trần nếu xét về mặt lãi suất danh nghĩa cuối kỳ (ở đây tương đương trả lãi cuối kỳ cho kỳ hạn 1 ngày).

Thế nên, nếu KH có ý định gửi 2 tuần, thì họ có thể “nói” với NH và hai bên vẫn “biết” với nhau như thế, nhưng trên sổ thì ghi dạng gửi kỳ hạn 1 ngày với lãi suất 14%/năm và cứ thế gia hạn (rollover) cả gốc lẫn lãi (principal + interest) cho đến đủ 14 ngày rồi nhận luôn một thể, sau 14 ngày, lãi suất thực nhận là 14.035%/năm.Chúng ta dễ dàng tính toán lãi suất thực này. (bằng công thức effective interst rate = (1 + nomnal interest rate/n)^n – 1. Với n là số kỳ tính lãi và nominal ở đây là lãi suất trả cho n kỳ)

Cách như trên là tận dụng hình thức “lãi mẹ đẻ lãi con” hay lãi sinh lãi sau mỗi kỳ gộp lãi (gọi là compound interest rate). Thời gian gửi càng dài, số lần lãi nhập gốc  (n) càng nhiều thì lãi suất thực nhận được càng cao do lãi sinh lãi, như trường hợp, thay vì tôi gửi kỳ hạn 1 năm, lãi suất 14%/năm cuối kỳ, thì tôi sang ngân hàng kia, gửi kỳ hạn ngày (lãi cuối kỳ) và cứ thế  gia hạn (rollover) cho đúng 1 năm (tôi và NH ngầm định là không rút cho đến hết năm, vì thực tế, mục đích của NH ra hình thức trả lãi này là nhằm mục đích tăng lãi suất lên). Khi đó, lãi suất cuối năm tôi được là 15.024%/năm, cao hơn so với gửi NH kia là 1.024%/năm.

Lãi thực cuối kỳ mà KH nhận được sau một quá trình tái tục liên tục cho đến hết thời gian cần gửi gọi là lợi nhuận trong kỳ nắm giữ HPR (holding period return). Nó đang cao hơn so với lãi suất trần của SBV.

Thứ hai là tính ra, NH vẫn có lợi nếu huy động 1 tuần trở lên với lãi suất trả 14%/năm cho kỳ hạn 1 tuần. Chưa thể so sánh với lãi suất cho vay, chỉ cần so sánh với lãi suất ngắn hạn cùng kỳ hạn (liên NH) thì đã có lợi!

Thứ ba là, tăng cường cơ sở khách hàng, cứ “kéo” khách hàng về trước rồi sau đó tìm cách giữ họ lại cho sau này. (KH chuyển qua gửi lại được đón tiếp như thượng đế!)

Nếu so với mức lãi suất mà NH có thể trả cho KH trước đây, thì mức lãi suất thực kia cũng không cao đối với NH đó.

Về thanh khoản, như đã nói, chẳng qua là thỏa thuận để lách trần (KH cam kết bên ngoài không rút trước hạn cho kỳ hạn thực gửi ví dụ 1 năm, 2 tuần) thì NH vẫn sử dụng bình thường! Tuy nhiên, về quản lý thanh khoản (cả chính NH và SBV) thì càng thêm phức tạp!

Bảng Lãi suất thực nhận được trong cả kỳ gửi (HPR) (%/năm) tương ứng với lãi suất niêm yết của ngân hàng:

SBV sẽ làm gì với trường hợp này? Điều này là ngoài tầm kiểm soát (quá chi tiết)!

Ở trên tôi tính lãi với cách tính theo chuẩn Euro 30/360 (tức 1 tháng có 30 ngày và 1 năm có 360 ngày), các phần mềm (core banking) của các NHTM VN (Như T24, Flexcube,…) đều sử dụng base day là 360 cho phân hệ Deposit. Về phía KH, thông thường, gửi tháng, nếu có ý kiến, thì NH có thể trả cho họ theo thời gian thực gửi (actual) của VN là có những tháng 31 ngày, khi đó họ sẽ tính toán bên ngoài và chi thêm lãi cho KH. Ví dụ gửi kỳ hạn 1 tháng, đúng trong tháng 7, có lãi suất là 14%/năm, thì nếu KH yêu cầu tính 1 tháng có 31 ngày, họ sẽ tính lại là = 14%*31/365 = 1,1890%/tháng, còn không, mặc định sẽ là 14%/12 = 1,1667%/tháng.

Advertisements