Tags

, ,

Trong thời gian gần đây, vấn đề lãi suất có thể nói là nóng bỏng nhất! Trong đó, nỗi bật là bài toán hạ lãi suất của tân Thống đốc, được đánh giá là rất khó với các công cụ trong tay. Có một bài viết về điều hành lãi suất chính sách khá bài bản theo dòng sự kiện này.

Theo tôi thì bài viết này có thể trở thành thuần túy về lý thuyết ở Việt Nam. (Có lẽ tác giả không nắm rõ/hoặc không biết về tình hình hiện tại của kinh tế VN?) Đây hoàn toàn là lý thuyết về “bộ” công cụ CSTT của một NHTW (cùng với một số công cụ khác), có thể “ráp” vào bất cứ nền kinh tế nào, nhưng điều kiện cần là cơ chế truyền tải của CSTT trong môt khung thời gian khác nhau và do đó, hiệu quả khác nhau.

Chúng ta cần vế cuối cùng: hiệu quả, nhưng trong thời gian vô cùng quý hiếm với một cơ chế truyền tải không rõ ràng, nên hiệu quả khó biết! Cơ chế này thiếu hiệu quả bởi cần một yếu tố rất quan trọng là niềm tin của thị trường – tạo nên yếu tố kỳ vọng (mà thị trường tài chính – tiền tệ là thị trường của kỳ vọng). Đối với lãi suất, đó là cấu trúc kỳ hạn.

Ví dụ, mục tiêu trung gian của CSTT của chúng ta chưa rõ ràng, là cung tiền hay lãi suất? Lý thuyết thì tất nhiên không thể kết hợp cả hai. Mục tiêu cuối cùng là gia tăng sản lượng (GDP) hay ổn định giá trị đồng tiền (CPI)? Từ những lẫn lộn và tính không thống nhất giữa các mục tiêu cũng như quyết tâm của nhà làm chính sách dễ lung lay xảy ra trong thời gian quá ngắn làm “rối loạn” và không định hình được cấu trúc lãi suất: ngắn và trung và dài hạn (yield curve). Ngắn hạn không định hình, dài hạn mất niềm tin.

Tức là không tin tưởng vào những phản ứng của chính sách, hay có thể nói là của nhà làm chính sách, trong đó có NHNN (phù hợp với mục tiêu trung gian theo định hướng thực hiện mục tiêu cuối cùng). Cấu trúc ngắn hạn không hình thành vì kỳ vọng về lạm phát và lãi suất danh nghĩa không có, tức NHTW không bảo vệ được lãi suất mục tiêu của mình. Trong khi đó, cấu trúc dài hạn dựa trên kỳ vọng về định hướng và sự thống nhất trong mục tiêu cùng với năng lực và quyết tâm (ví dụ, tăng trưởng mức thấp, ưu tiên kiềm chế lạm phát)

Nếu ngân hàng trung ương (NHTƯ) có thể tác động đến kỳ vọng về các mức lãi suất ngắn hạn trong tương lai thì NHTƯ có thể gây ảnh hưởng đến tốc độ của hoạt động kinh tế. Lãi suất dài hạn là một hàm số của các mức lãi suất ngắn hạn kỳ vọng. (Benedict Bingham, IMF)

Thế nên, giả sử rằng tăng lãi suất Tái cấp vốn, (CSTT thắt chặt) nhưng, lãi suất ngắn hạn có thể tăng rất mạnh nếu thị trường mất niềm tin vào việc, nhà điều hành có bảo vệ được lãi suất mục tiêu hay không, hay một sự thắt chặt làm thị trường kiệt quệ thanh khoản. Thế nhưng, thị trường cũng có thể phản ứng đối với việc tăng lãi suất ngắn hạn phù hợp với kỳ vọng về xu hướng lạm phát sẽ giảm với mức lãi suất danh nghĩa được bảo vệ. Trong khi đó, lãi suất dài hạn vẫn có thể giảm xuống nếu thị trường thấy rằng, định hướng rõ ràng của NHTW là kiềm chế lạm phát. Lúc đó, dòng vốn thị trường sẽ “phân khúc” rõ ràng theo từng kỳ vọng nhất định (tiết kiệm, đầu tư, tiêu dùng, ví dụ, người ta có thể gửi tiền dài hạn vào ngân hàng chứ không phải gửi ngắn//rất ngắn vì sợ lãi suất ngắn và dài hạn đều cao lên, khi quá trình cứ tiếp diễn, toàn bộ nguồn vốn trong nền kinh tế biến thành ngắn hạn!)

Thực tế là như chúng ta áp đặt tăng cung tiền là bao nhiêu, cung tín dụng là bao nhiêu trong khi áp đặt luôn lãi suất! Mục tiêu là gì còn chưa rõ, quyết tâm thì luôn bị đặt dấu hỏi,…

So với cách nay nửa năm, tuyệt đại đa số chuyên gia đồng tình cao với tinh thần chống lạm phát của Nghị quyết 11. Nay như có người nhận định, giờ các chuyên gia cũng hiến kế quyết liệt chống lạm phát, cũng phải lấy tinh thần Nghị quyết 11 làm trung tâm, phải đặt mục tiêu tăng trưởng là số 2. Nhưng các chuyên gia dường như đang chao đảo trước áp lực của giới kinh doanh thì phải.(Ts. Trần Ngọc Thơ, SGT)

….Đặc biệt lưu ý rằng trong bốn năm qua, Chính phủ đã thay đổi mục tiêu chính sách cơ bản bốn lần: kích thích tăng trưởng bằng đầu tư công cao và mở rộng tín dụng trong năm 2007, sau đó kiểm soát lạm phát trong năm 2008, trở lại năm 2009 với chính sách nới lỏng để đối phó với suy thoái kinh tế do ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, sau đó vào năm 2010 là sự thay đổi chuyển sang chính sách ổn định kinh tế (Ts. Phạm Đỗ Chí, SGT)

Việc “rối loạn” như thế thì tác động của CSTT lại có hiệu quả kém hoặc không như ý muốn, tức là cần phải sử dụng nhiều hơn biện pháp hành chính can thiệp. Vấn đề điều hành và chất lượng, vấn đề mục tiêu rõ ràng cùng với sự nhất quán sẽ tạo nên niềm tin, khi có niềm tin, hiệu quả của chính sách sẽ cao (theo ý muốn).

P/s. Tôi cũng lấy làm phấn khích và rất cảm ơn ngài thống đốc với tuyên bố giảm lãi suất, đặc biệt hơn khi mới nhậm chức! Đó là thử thách đầu tiên không chỉ cho ông, mà cho cả một tiến trình lấy lại niềm tin (tất nhiên lạm phát phải là mục tiêu số 1)

Advertisements