Tags

, ,

Debt trap (bẩy vay nợ) là tình trạng một quốc gia (cá nhân, công ty) mở rộng chi tiêu, đầu tư hoặc kích thích tiêu dùng (G, I, C) bằng việc mở rộng nợ (Debt), nhưng không dẫn đến kết quả của sự tăng trưởng GDP cao, cuối cùng sẽ dẫn đến tỷ lệ Debt/GDP tăng lên. Việc không tạo được dòng tiền để thanh toán cho các khoản cam kết (lãi, gốc) càng khiến quốc gia đó vay thêm tiền để thanh toán các món đến hạn cũ, nếu duy trì tình trạng này sẽ dẫn đến debt crisis. Việc kích thích tăng trưởng là cần thiết hoặc “phải thắt lưng buộc bụng” (Austerity policy), cắt giảm chi tiêu công (G), giảm bội chi NSNN (budget deficit) và giảm Debt/GDP

Đây là một yếu tố rất quan trọng trong quản lý nợ (nợ công). Có một cách đánh giá dấu hiệu của debt trap có thể là khi chi phí nợ, nợ công (government bond yield) cao hơn so với tăng trưởng GDP của một quốc gia trong dài hạn (tất nhiên là nominal GDP) (xem The Economist). Yếu tố này tương đương với tình trạng một quốc gia không tạo ra của cải thặng dư do chi phí nợ ăn mất (phải trả lãi). Một khi rơi vào tình trạng này phải thoát ra bằng việc kích thích tăng trưởng mạnh hoặc austerity, chứ không thể để tồn tại lâu dài. Yếu tố này rất là quan trọng bởi tính tự điều chỉnh của thị trường, tức là khi có dấu hiệu về gánh nặng nợ trầm trọng hơn, thì chi phí nợ yêu cầu lại càng tăng lên (tức GB yield càng tăng), khả năng funding available giảm xuống và cost of funding càng cao lên, cuối cùng đi đến crisis.

Theo một bảng số liệu của Economist đánh giá về Debt trap của các quốc gia, bảng đánh giá từ tháng 2/2010, những gương mặt được nêu lên, phần nào hiện tại đang “vẫy vùng”:Ở VN, tăng trưởng GDP (nominal) trong một thập kỷ qua là rất cao, chi phí nợ công (bao gồm cả nợ nước ngoài – chi phí thấp) thì thông qua bond yield loại 2 đến 10 năm vẫn không cao (tính bình quân, như lại 2 năm yield bình quân từ 2001 – 2010 là 10.6%, loại 10 năm cao hơn một chút). Do vậy chưa lo vỡ nợ! Tuy nhiên, GDP (nominal) của chúng ta tăng mạnh còn do yêu tố lạm phát (inflate lên) (growth rate của  nominal GDP bình quân 10 năm là 16.32%, 20 năm là 22.15%, còn 5 năm là 18.89%) Trong khi chi phí nợ (bond yield) bị “đè” xuống trong thời gian trước đây bằng sự hỗ trợ của NHNN (áp lãi suất tái cấp vốn, OMO ở mức thấp và rất thấp (vs lãi suất trên thị trường), các NHTM đua nhau mua TPCP). Tỷ lệ Debt/GDP cứ thế tăng lên nhưng đánh giá về chi phí phải trả là chưa cao.

Việc so sánh tăng trưởng GDP với chi phí nợ công (bình quân) với tầm nhìn dài hạn, có thể ngụ ý cho một quy tắc đầu tư công rằng, để kiểm soát hiệu quả đầu tư công đáp ứng được sự ổn định dài hạn (tức tạo được giá trị thặng dư – như trên), chúng ta phải xem xét hiệu quả đầu tư công dựa trên một suất sinh lợi đòi hỏi ít nhất cũng phải bằng tăng trưởng GDP dài hạn – (tính bình quân, tức là, có dự án thấp, cần phải có dự án cao hơn), tức là, thẩm định dự án công dựa trên suất sinh lợi yêu cầu này (như discount NPV, IRR)

Cũng dựa trên quy tắc quản lý này (lấy GDP nominal growth rate – cost of public debt). Trong một quy định quản lý nợ công và nợ nước ngoài của chúng ta, có hiệu lực trong năm 2011, cũng sử dụng tương tự, tuy nhiên, không phải trong dài hạn (bình quân tăng trưởng GDP dài hạn – ie. 5 năm, mà là tăng trưởng GDP năm kế trước).

“Theo Thông tư số 56/2011/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 1/8 vừa qua, việc xác định hạn mức nợ nước ngoài từng năm đã có công thức cụ thể, theo đó có một chi tiết quan trọng là khi tăng trưởng GDP năm liền trước vượt qua được mức lãi suất vay bình quân gia quyền của các khoản vay trung dài hạn nước ngoài, thì chỉ tiêu nợ nước ngoài so với GDP năm sau sẽ tăng tương ứng” (VnEconomy)

Theo tôi nghĩ, có lẽ tỷ lệ nợ sẽ tăng và cứ tăng (tất nhiên, nợ nước ngoài có lãi suất rất thấp – cùng với rủi ro tỷ giá).

Việc sử dụng shortterm là cần thiết, nhưng với số quá khứ (năm trước thì chưa được) mà cần phải có số dự tính (forecast) trong năm tới để có chiến lược nợ phù hợp (như hình trên)

Xem entry trước về nợ công VN. Bài liên quan: Central bank’s Dilemma.

Advertisements