Tags

, ,

Trong bài phỏng vấn này của phóng viên, tôi không đề cập đến những nội dung trả lời của người được hỏi. Entry này tôi notes lại một phần sơ đẳng của phóng viên hỏi, mà tôi thấy cần thiết để áp dụng trong phân tích, đánh giá hay dự báo lợi nhuận của NH.

Câu hỏi: Ngân hàng Nhà nước cho rằng nợ quá hạn có tăng lên. Việc áp lãi suất lên gấp rưỡi với tín dụng quá hạn sẽ làm tăng lợi nhuận trên sổ sách của ngân hàng thương mại mà thực chất là đi cùng rủi ro?

Thứ nhất, nợ quá hạn (NPL) được quy định là nợ chưa trả được lãi và/hoặc gốc trong một kỳ nào đó đã đến kỳ thanh toán. Tùy vào thời gian quá hạn, được phân nhóm nợ, rồi từ đó dựa vào tài sản đảm bảo tiến hành trích lập dự phòng cụ thể (cùng với dự phòng chung trên từng món nợ) tạo nên tổng dự phòng Loans Loss Reserves (LLR) (hay còn gọi là Allowance for Loan Losses). Khoản mục này nằm trên bảng Balance Sheet thuộc về assets, nhưng là một contra-assets, tức là làm giảm tài sản xuống (earning asset giảm xuống) (mục nằm dưới mục dư nợ, mang dấu trừ “–“). Nợ quá hạn nhiều (ở VN là từ nhóm 2 đến nhóm 5) thì khoản dự phòng LLRs này càng lớn lên.

Thứ hai, Lợi nhuận (thu nhập từ lãi) được tạo ra như thế nào? Từ bảng báo cáo thu nhập (Income Statement) thì Lợi nhuận (Net Income) được tạo một phần từ lãi cho vay, tức là Thu nhập từ lãi ròng (Net Interest Income). Lãi cho vay này được tính từ lãi thực thu (đã thu) và lãi dự thu (interest accrued). Thực thu thì không cần phải bàn. Phần dự thu thì loại trừ các khoản quá hạn. Do đó, món quá hạn sẽ không tính vào lãi dự thu (ngưng dự thu) và sẽ không làm tăng thu nhập từ lãi, mặt khác, nó làm giảm thu nhập từ lãi và thu nhập sau dự phòng (net interest income after Loan loss Provision) vì số tiền lãi dự thu trong hạn trước đó mà KH chưa trả cũng bị trừ ra khỏi lợi nhuận (từ lãi) và lợi nhuận sau chi phí dự phòng giảm “kép” do dự phòng tăng.

Như vậy, Thu nhập từ lãi (Net Interest Income) không ghi nhận khoản này, và do đó, Net income before Loan loss Provision giảm xuống. Khi thu được, thì nó được “bù” vào bằng cách giảm bớt khoản dự phòng (hoàn nhập).

Thứ ba, Khoản chi phí giảm trừ lợi nhuận (sổ sách) do nợ xấu thế hiện qua khoản mục Loan loss Provision ở dưới dòng Net income before Loan loss Provision (lợi nhuận trước trích dự phòng rủi ro tín dụng). Trong đó, khoản mục Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng này được xác định như sau:

Loan loss Provision = (LLRt – LLRt-1) – Net Charged off. Khoản Net charged off = Recoveries (khoản principal amount of loans charged off trong kỳ trước đó) – charged offs.

Tức là Chi phí rủi ro mất nợ này được tính bằng khoản tăng thêm của Dự phòng rủi ro tín dụng trong kỳ này trừ đi đi dự phòng rủi ro tín dụng kỳ trước và trừ đi khoản hoàn nhập do “khôi phục được khoản nợ đã mất) cuối cùng cộng thêm vào khoản nợ đã được ghi nhận mất đi trong kỳ (charged off). Phần tăng thêm của Dự phòng rủi ro tín dụng trong kỳ này trừ đi đi dự phòng rủi ro tín dụng kỳ trước (LLR1 – LLR0) sẽ tăng lên khi nợ quá hạn tăng lên, làm cho Provision for loans loss tăng lên. (hình minh họa: UBPR)

Phần nợ bị “mất đi” trong kỳ báo cáo trừ đi phần nợ (mất đi) được hoàn nhập – thu hồi trở lại (recover charge off) sẽ tạo ra khoảng Net Charge off, và mục hoàn nhập ròng này sẽ trừ ra khỏi dự phòng rủi ro tín dụng PL. Khi thu hồi về nhiều, Net charged off dương, thì Chi phí do mất rủi ro mất nợ tạo ra (Loan loss Provision) sẽ giảm đi.

Và, lợi nhuận cuối cùng được tạo thành: Net Income (before tax) = Income before Loan loss Provision – Loan loss Provision.

Phần được “đánh” 150% lãi suất trên HĐ kia, cùng với phần vốn gốc (principal) đã được trích lập dự phòng, sau này nếu hoàn nhập được khoản này (hoặc một phần) thì chúng ta có bút toán hoàn nhập dự phòng vào lợi nhuận thông qua Provision for loan giảm xuống. (Chú ý, khi nợ quá hạn, nợ xấu tăng lên, dự phòng tăng lên, dự phòng là cho cả khoản gốc (principal), nhưng lợi ích – thu lãi, thì chỉ trên khoản lãi (lãi suất cho vay và lãi phạt!))

Lợi nhuận không được thổi phòng lên (có thể giảm xuống) từ Nợ quá hạn (do lãi cao) trong thời điểm báo cáo. (Chỉ khi thu được vào hoàn nhập dừ phòng).

Câu hỏi trên chỉ đúng với việc, lợi nhuận ghi nhận chưa tương xứng với rủi ro (risk/return) do chưa đánh giá đầy đủ về rủi ro (nợ xấu, do thực tế sổ sách – book value khác với tình hình thị trường hiện tại – market value vốn rất tệ). Chứ không phải đánh giá tương ứng giữa ghi nhận lợi nhuận mà quên mất rủi ro. Theo tình huống trên, thì lợi nhuận chưa được ghi nhận (phần quá hạn, đặc biệt lãi suất cao lên 150% – theo tác giả sẽ làm lợi nhuận cao hơn)!

NH có cố tình “ép” để thu lãi cao hơn (150%)? Về phía NHTM, có lẽ con số 150% lãi phạt là hấp dẫn và thực sự tạo thêm được thu nhập từ lãi cho những kỳ thu lãi sau, nếu thực sự  người đi vay “sống sót” và có thể thu hồi được cả gốc lẫn lãi. Tuy nhiên, NHTM cũng tốn chi phí refinancing dòng tiền bị thiếu hụt, chi phí mà NHTM phải trả cho việc tái thiết lập trạng thái cân bằng của dòng tiền (khi dòng tiền vào không đúng như dự định), việc tái tài trợ này rủi ro phụ thuộc vào lãi suất thị trường.

Điểm nữa, nếu cố tình “ép” KH phải chịu lãi phạt 150% (nhằm thu lãi cao), “bù lại” chất lượng tài sản của NH sẽ giảm xuống và RWA (risk weighted asset) tăng lên và các hệ số an toàn giảm xuống. Tỷ lệ nợ nợ quá hạn, nợ xấu tất nhiên tăng lên.

Việc các DN bị quá hạn (nợ gốc/ tiền lãi) sẽ gây hậu quả quá lớn đối với chính DN đó, vì trên CIC sẽ “đóng dấu” loại nợ của DN này, sau này cho dù đến NHTM nào cũng khó vay (mới) hoặc vay sẽ với lãi suất và giá trị tài sản cầm cố/thế chấp rất cao.

(Nhưng NHTM nếu chấp nhận rủi ro, bước đầu họ chấp nhận giảm lợi nhuận trong những tháng đầu, sau đó KH thanh toán hết thì lợi nhuận sẽ tăng lên (earnings management)(điều tiết lợi nhuận, lợi thuế, ie. thuế giảm trong thời gian tới,… Vì nợ nhóm 3-5 (nợ xấu) thì mới nguy hiểm, chứ nhóm 2 thì cũng bình thường. Mặt khác, việc chuyển nhóm nợ không phải là tự động, nên NH có thể “can thiệp” thủ công, tức là vẫn thu lãi phạt, nhưng nhóm ko chuyển.)

Advertisements