Tags

, , ,

Notes lại một số vấn đề (để tránh nhầm lẫn đáng tiếc) khi đọc được câu này – phát sinh nhiều câu hỏi (thực tế đây là vấn đề đau đầu không dễ xác định/thực hiện):

Lãi suất tối ưu (SaigonTimes): “…cho thấy chính sách tiền tệ đã, đang và sẽ xoay quanh cái trục chính là lạm phát. Tuy nhiên, xoay và có xoay kịp không là hai việc khác nhau. Mức tăng CPI tháng 5 giảm 30% so với tháng 4, tháng 6 giảm hơn 50% so với tháng 5. Nếu tốc độ giảm này được duy trì cho tháng 7, 8, 9 thì rõ ràng mức giảm của lãi suất đã bị tụt hậu và độ xoay của chính sách tiền tệ đã không theo kịp với biến động CPI”.

  1. Phân biệt CSTT chống lạm phát (bằng các công cụ của CSTT) và CSTT theo mục tiêu (trung gian) Lạm phát (Inflation target)
  2. Lạm phát mục tiêu là bao nhiêu nếu điều hành theo inflation target, nó khác hoàn toàn với mục tiêu lạm phát trong năm nay là 15 – 17%.
  3. [Hỏi thêm, và cũng cố gắng tìm câu trả lời] Hiện nay, NHNN điều hành CSTT dựa trên cơ sở mục tiêu gì? Inflation target, Money supply growth target, (anchor) Exchange rate target hay multi-target?
  4. Tôi chưa thấy việc đánh giá tốc độ tăng…giảm của CPI để rồi hướng đến…tốc độ tăng/giảm của lãi suất (giã sử CSTT theo mục tiêu lạm phát hoặc/và đang chống lạm phát) để rồi khẳng định là nó có thể đã tụt hậu (nt)!!! – Hỏi như vậy, bởi muốn thực thi CSTT dựa trên Inflation target, một trong những điều kiện cần (trong nhiều điều kiện) thì phải xác định được “Lạm phát” ở đây là cái gì, đo như thế nào, đánh giá mức độ “lạm phát” này trong tương lai như thế nào, bằng công cụ gì, lượng dựa trên mức độ thông tin ra sao,…để từ đó, có được phương pháp thực hiện các chính sách (Những “khung” còn lại là: Tính độc lập của NHTW, quyền hạn được quy định rõ ràng trong mục tiêu chính là mục tiêu lạm phát, tính trách nhiệm (thực hiện, giải trình, minh bạch) của NHTW.
  5. Để đánh giá tính “tụt hậu” của lãi suất (chính sách) thì ít nhất phải biết độ trễ của chính sách, độ trễ là bao nhiêu trong kịch bản chống lạm phát và kịch bản điều hành theo mục tiêu lạm phát (lạm phát mục tiêu)

[CSTT dựa trên Inflation target là việc thực thi CSTT với mục tiêu chính chính là kiểm soát lạm phát, hướng đến việc ổn định giá cả, ổn định tiền tệ: giá trị đồng nội tệ và niềm tin vào đồng nội tệ, được quy định rõ ràng về quyền hạn, trách nhiệm, cũng như tính minh bạch. Khi thực hiện CS theo mục tiêu này, họ đề ra mục tiêu trung tâm (thể hiện bằng con số cụ thể, có thể cộng/trừ đi một phần sai lệch) và thực hiện trong trung dài hạn theo mục tiêu này. Hiện nay có khoảng 26 quốc gia theo mục tiêu này [1], trong đó, phần lớn là các quốc gia mới nỗi (Emerging market) như Brazil (4.5%), Philippines (4.5%), Indo (4% – 6%, bình quân 5%), Thái Lan (0.5 – 3%), Mexico (3%); các quốc gia phát triển như Anh (2% – “Two point Zero”[2]), Canada (2%), Thụy Điển (2%), New Zealand (1% – 3%), Hàn Quốc (3%), Australia (2 – 3%).Bên cạnh đó, một số Central bank lớn nhất như Fed, ECB, BoJ, SNB – Swiss National Bank được cho là sử dụng một phần nội dung trong Inflation target.]


[1] Ts. Nguyễn Hồng Nga, “Chính sách mục tiêu lạm phát: Chặng đường 20 năm”
[2] Website của Bank of England – BOE

Advertisements