Tags

,

Nhân tiện có comments này, tôi note lại một số chú ý khi đọc bảng GAP trong phân tích rủi ro thanh khoản ngân hàng, đặc biệt là các bảng trên BCTC hàng năm theo quy định.

Hai bảng Rủi ro lãi suất và Rủi ro thanh khoản cùng với bảng Rủi ro tiền tệ là một phần trong BCTC (QĐ 16) không thể thiếu trong ngân hàng. Tuy vào mục đích, sự hiểu biêt để phân tích bảng trên. Mục đích báo cáo chung là sự lệch pha (GAP) giữa Tài sản có và Tài sản nợ về 3 vấn đề: Thời gian đáo hạn của tài sản có – tài sản nợ nằm ở bảng RRTK (tức chênh lệch giữa dòng tiền ra – outflows và dòng tiền vào – inflows), lệch về kỳ định giá lại tài sản (định lại lãi suất) nằm ở bảng RRLS và lệch về TS Có – TS Nơ khi phân theo loại tiền (RRTT)

Bảng GAP (GAP report statement) có những yếu tố chính: Assets (inflows), Liabilities (outflows), thang GAP (Maturity ladder, khung thời gian đáo hạn cần quản lý) và GAP = inflows – outflows.Chú ý, bảng  GAP thanh khoản thì các kỳ hạn và dữ liệu được phân theo thời gian đáo hạn còn lại (tương ứng với nó là lợi suất/chi phí cho đến khi đáo hạn – yield/cost to maturity). Còn ở bảng  GAP Lãi suất thì các period (và số liệu tương ứng) được phân theo thời gian để đánh giá lại (lợi suất/chi phí/lãi suất) của các Tài sản có và Tài sản nợ.

Đối với Gap về RRTK chỉ là một phần nhỏ trong quản lý rủi ro thanh khoản (Measurement of mismatches through gap statements), một cách cơ bản và đơn giản nhất khi xem bảng GAP:

Xem Position của GAP, đó là GAP âm (negative) hay GAP dương (Positive), âm thì xuất hiện rủi ro thanh khỏan, càng âm càng rủi ro, càng có sự lệch pha lớn giữa nguồn trả nợ và nợ phải trả trong một thời gian. Nếu GAP âm thì xem âm lớn hay bé và bao nhiêu % so với Tổng Nợ phải thanh toán, Tổng tài sản và Tài sản có tính thanh khoản cao. Tỷ lệ âm càng lớn càng rủi ro. GAP âm ở khung đáo hạn càng ngắn càng rủi ro. Ngoài ra, nên so sánh GAP với vốn CSH, vì với một mức vốn nhỏ, NHTM khó có khả năng vay thêm khoản GAP lớn gấp nhiều lần được. Nguy hiểm nhất là GAP âm lớn cùng với vĩ mô đi vào vùng thắt chặt, hard landing!

Một NHTM có GAP âm lớn nằm vào khung (period gap) đáo hạn càng ngắn (ví dụ đến 1 tháng) là rất rủi ro, GAP âm có nghĩa là trong 1 tháng tới, tổng nghĩa vụ phải thanh toán lớn hơn tổng nguồn (tài sản) có khả năng đáo hạn lấy để thanh toán cho khoản trên. Nếu không vay được tiền thêm (hoặc không xin gia hạn nợ được), sẽ mất khả năng trả nợ. Vay thêm bằng cách vay liên ngân hàng là chủ yếu, tái cấp vốn, vay OMO (riêng vay OMO thì không có ý nghĩa nhiều, vì đó là kiểu bán kỳ hạn GTCG như TPCP, mà mục TPCP phần lớn đã được account vào trong mục tài sản có thể thanh toán rồi) – Do đó, nên tập trung vào mục tín chấp.

GAP position được phân theo cấp độ để quản lý theo từng kỳ đáo hạn. Một NHTM tùy theo uy tính và quy mô vốn của mình cũng như chiến lược về theo đuổi lợi nhuận, có thể phân GAP level khác nhau để giới hạn và quản lý. Ví dụ, GAP 1month có thể chia thanh 3 cấp, cấp 1 là âm -5% (vs Tổng nợ), cấp 2 là âm – 10%, cấp 3 là âm – 20% so với Tổng Tài sản, trong đó, cấp 3 là báo động đỏ, cấp 1 sẽ đánh giá lại, cấp 2 cần xem xét điều chỉnh,…. Với GAP dài hơn, ví dụ từ 1 – 3 tháng, có thể đặt level âm nhiều hơn,…(như cấp 1 là âm -7%, cấp 2 là âm – 12%, cấp 3 là âm – 25%,…)

So sánh tỷ lệ GAP của hai kỳ gần nhau để xem sự chuyển biến, chi tiết hơn, sẽ so sánh sự chuyển biến của các yếu tố cấu thành inflows và outflows (tức là tài sản có và tài nợ thay đổi) nếu một NHTM cứ duy trì tình trạng “thâm hụt” ở khung thời gian ngắn hạn một cách triên miên, sẽ rất rủi ro. Điều này cũng thể hiện cách “ứng xử” hay cách quản trị của mỗi NHTM, đó là cách fill GAP và khả năng fill GAP

Tiếp theo là đánh giá tỷ trọng trong “đóng góp” vào GAP của các yếu tố cấu thành (Asset – Liability Breakdown) ví dụ: GAP loans (or/and Investments) – Deposits, GAP interbank loans – inter banks Deposit,.. để thấy GAP đến từ đâu.

Để đánh giá xu hướng ảnh hưởng đến lợi nhuận, đặc biệt là lợi nhuận từ lãi (Net Interest Income), ta có thể đặt cạnh Assets là suất sinh lợi dự tính đến lúc đáo hạn (của kỳ GAP, tính bình quân toàn bố yếu tố tài sản cấu thành), đặt bên cạnh Liabilities là chi phí dự tính (đến lúc đáo hạn của kỳ đáo hạn, tính bình quân toàn bộ yếu tố nợ cấu thành). Ta sẽ có Period GAP position và Period Net Interest Margin tương ứng. Đánh giá tổng thể, lợi xuất kỳ vọng thị trường (như lãi suất) tăng sẽ có lợi cho GAP dương (Period Net Interest Margin tăng lên đúng bằng tỷ lệ GAP vs Tài sản nhân với mức tăng lãi suất, lợi nhuận tuyệt đối tăng lên bằng đúng GAP*Mức tăng lãi suất) và giảm thì có lợi đối với GAP âm và ngược lại.

Và tất nhiên, không thể thiếu là so sánh theo Peer group/ Industry nhằm đánh giá tổng quan. Cũng tương tự, có thể tạo nên các ladder GAP lũy kế (Comulative GAP) – cũng phân tích tương tự tùy theo cách dự báo và khung dự báo tình hình thị trường để có nhưng GAP cộng lũy kế.

Điều chỉnh GAP (do dự báo tình hình thị trường) sẽ sử dụng một số biện pháp có thể đó là kéo dài kỳ hạn của Tài sản Nợ (tăng cường huy động nguồn dài hạn, phát hành TP dài hạn,…) hoặc thu hẹp kỳ hạn tài sản có bằng các nghiệp vụ sử dụng hợp đồng trái phiếu có thời gian đáo hạn bình quân (Duration) ngắn vào danh mục tài sản hoặc thực hiện các hợp đồng Repo làm tăng kỳ đáo hạn bình quân của tài sản nợ. Refinance hoặc discount các tài sản dài hạn hơn, cũng có thể vay ngoại tệ và swap thành VND để tài trợ,…Tuy nhiên, trong dài hạn, phải có chính sách điều chỉnh kỳ hạn khoản cho vay phù hợp (vì đây là tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất của NHTM)

Nhìn vào mức chênh lệch, ta đánh giá được khả năng sử dụng nguồn và quản lý, phân bổ tài sản của một NHTM. Đồng thời, có thể đánh giá được nguy cơ cũng như cơ hội sinh lợi của NH, ví dụ, trong thời kỳ suất sinh lợi của một tài sản (ví dụ là bond, loans) hình thành nên một đường cong steep mạnh, có nghĩa là kỳ hạn dài sẽ có lợi suất rất cao so với kỳ hạn ngắn, các NHTM có xu thế sử dụng ngắn hạn finance cho các tài sản dài hạn, spread sẽ rất cao, khả năng sinh lợi tốt, tất nhiên GAP sẽ âm mạnh dần theo một khung thời gian đủ tạo spread hấp dẫn. Điều này là rủi ro nhưng lại có khả năng sinh lợi lớn. Do đó, chúng ta cần đánh giá thêm khả năng dịch chuyển của đường cong lợi suất theo hướng ngược lại với đường cong hiện tại mạnh hay yếu, trong thời gian bao lâu, nếu lâu hơn khung thời gian có GAP âm lớn, rủi ro sẽ ít đi. Nhưng nếu có khả năng nhanh (ie, lạm phát đang gây áp lực, CSTT thắt chặt,…) sẽ là rất rủi ro, vì khả năng lãi suất ngắn hạn sẽ tăng rất nhanh, nguồn tài trợ ngắn hạn sẽ khan hiếm và NHTM sẽ lâm nguy (điều này một số NHTM đang gặp). Ngược lại, cũng phân tích tương tự.

Đối với  Rủi ro lãi suất (Interest Rate Risk – GAP) cũng phân tích tương tự, lợi ích hoặc thiệt hại của GAP âm/dương khi lãi suất thị trường tăng/giảm cũng phân tích và tính toán tương tự như Rủi ro Thanh khoản ở trên. Chú ý, là cách phân chia period và dữ liệu là lấy theo thời gian cho đến khi đánh giá lại lợi suất/chi phí của khoản đó (yield/cost to repricing). Ví dụ, Period 1 tháng tiếp theo, đối với bảng RRTK, ta sẽ bỏ tất cả những khoản Tài sản sẽ đáo hạn trong vòng 1 tháng tới vào mục tài sản, bỏ tất cả những khoản nợ sẽ đáo hạn trong vòng một tháng tới vào cột Nợ 1 tháng, tính GAP, sẽ được GAP 1 tháng, tương tự cho các period khác cho đến hết. Còn đối với Rủi ro lãi suất, Period 1 tháng tiếp theo, đối với bảng RRLS, ta sẽ bỏ tất cả những khoản Tài sản sẽ được điều chỉnh lại lãi suất (có thể sẽ đáo hạn như những khoản có lãi suất fixed hoặc float hoặc chưa đáo hạn như những khoản có lãi suất floating) trong vòng 1 tháng tới vào mục tài sản, bỏ tất cả những khoản nợ sẽ sẽ được điều chỉnh lại lãi suất (có thể sẽ đáo hạn hoặc chưa đáo hạn) trong vòng một tháng tới vào cột Nợ 1 tháng, tính GAP, sẽ được GAP 1 tháng, tương tự cho các period khác cho đến hết.

Thực tế, quản lý GAP phức tạp hơn, đặc biệt mang tính chất thị trường (market to market repricing) – đây mới là vấn đề cốt lõi!

Nói lại, GAP chỉ là một công cụ nhỏ để quản lý rủi ro (một bộ phận thuộc loại quan trọng nhất trong ALM – Asset-Liability Management thuộc hội đồng ALCO) trong các công cụ của ALM System như: GAP, Modified GAP, Duration GAP, VaR và Các Scenarios.

Advertisements