Tags

, ,

Nhân đọc bài: Không nên siết chặt tiền tệ hơn nữa (CafeF, SBV). Có một số nghịch lý! Đồng thời, một mình CSTT sẽ không làm được gì, nếu cứ chạy theo cái nguyên lý chung (nhưng thực chất là che đậy cho chính sách tài khóa) và lạm dụng quá sẽ có hậu quả không lường!

1. Điều này làm tôi nhớ lại giai đoạn 2007 – 2008, nhưng tình hình hiện tại thì chúng ta đã có kinh nghiệm hơn rồi. Vấn đề là, năm ấy, chúng ta mới gia nhập WTO, trên đà hưng phấn với dòng vốn ngoại vào một cách mạnh mẽ, kinh tế phấn chấn với tốc độ cao, các NHTM tích cực mở rộng tín dụng (và huy động hết mức), kết quả năm 2007, tín dụng (cũng như cung tiền) tăng trên 53.9% (và 46.1%)! Kèm theo GDP tăng 8.46%! SBV cũng phấn chấn theo. Số là, trong giai đoạn đó, thanh khoản hệ thống NHTM rất tốt, theo thông tin tôi có được thì dự trữ tại NHNN duy trì ở mức cao và vượt mức lên đến 4 – 5%/GDP, SBV hầu như chạy theo chính sách kích thích tín dụng theo chủ trương phát triển nhanh của Chính phủ, không quan tâm nhiều đến tốc độ mở rộng của cung tiền, đồng thời thực hiện một hành động “ngây thơ” là đổ tiền mua thêm khoảng 9 tỷ USD vào dự trữ, cung tiền tràn ngập thị trường, tín dụng mở rộng hết mức với lãi suất dễ chịu và người cho vay (NHTM) cũng rất dễ chiu! Đến cuối năm, khi tín dụng đi vào “cuộc sống” thẩm thấu qua những kênh ngốn tiền như BĐS, CK, vàng và cạn kiệt thanh khoản dự trữ vượt mức ở SBV còn khoảng 1%GDP[1] thì thắt chặt mạnh! Như vậy đến lúc thanh khoản cạn kiệt thì thắt chặt! Hậu quả là hệ thống NHTM lâm vào khủng hoảng thanh khoản. [Cuối năm 2007, đầu năm 2008, lạm phát bùng lên: tăng 14.11% vào tháng 1, 19.39% vào tháng 3, 21.42% từ tháng 4 và tăng liên tục lên đỉnh 28.32% vào tháng 8/2008! SBV trước áp lực của quốc hội, chính phủ đã mất bình tĩnh mà siết chặt quá mạnh đẩy hệ thống NHTM vào cơn khủng hoảng thanh khoản! (Tăng ngay lập tức DTBB từ 3% lên 10% vào tháng 6 và 11% vào tháng 2 năm sau, tăng lãi suất chính sách lên mức 12 – 14% từ mức 8.25% trước đó)]

Cũng từ những sự lỏng lẽo trong việc bơm tiền và chính sách kích thích kinh tế phá triển đã vô hình chung đẩy hệ thống NHTM cho vay một cách dễ dãi, không tập trung quản lý rủi ro thanh khoản (sử dụng cho vay trung dài hạn, cho vay dự án có vong quay tiền chậm, cho vay rủi ro, đầu cơ,…) nên cơ cấu vốn – tài sản lệch trầm trọng – rủi ro thanh khoản lên cao, ngày càng tích lũy lên và nguy hiểm hơn theo quy mô hệ thống NHTM, để giờ đây, đang phải đối mặt lần nữa! Hay ít nhất, cũng gây cản trở cho việc sử dụng các công cụ CSTT hoặc thực hiện các chính sách của Chính phủ!

Tình hình hiện tại chắc không khá gì hơn (và cũng có thể không khác lúc đó). Đó là lý do khiến SBV kiềm chế lạm phát, giảm cung tiền mà không thể sử dụng dữ trữ bắt buộc. Hiện tại, có thể lượng tiền vượt dự trữ bắt buộc ở mức rất thấp, trên tổng thể dự trữ (bắt buộc) của cả hệ thống thấp (tỷ lệ DTBB 3%). Điều này là càng phù hợp với thông tin cuối năm trước, trong một phát biểu rằng, lượng GTCG (của NHTM – vay tiền) trên hệ thống SOMA khoảng 140 nghìn tỷ, nếu cuối năm đến nay ước lượng tiền bơm ròng qua OMO khoảng 20 nghìn tỷ, vậy tổng cộng khoảng 160 nghìn tỷ. Đó là con số lớn mà NHTM phải vay SBV để duy trì thanh khoản, cùng với đó là lãi suất trên thị trường liên NH luôn ở mức cao và duy trì một cách ổn định (trên 20%) trong một thời gian dài từ sau Tết âm lịch! Hậu quả, không thể tăng DTBB! Thay vào đó, tăng lãi suất.

Có thể nói, trong năm 2010, tín dụng tuy bị kiềm chế nhưng vẫn tăng ở mức cao: 29.81%, cung tiền tăng 25.3%. NHTM cũng sử dụng hết mức có thể và tổng thể, vượt qua mức huy động của xã hội với một cơ cấu kỳ hạn lệch pha nghiêm trọng. Tiết kiệm và đầu tư lệch nhau quá lớn, nếu con số này là 10% thì cũng tương đương khoảng 198 nghìn tỷ, con số này quả thực khó cắt giảm! Và đó là lý do, lãi suất (thực) luôn cao trong tình hình bình thường (chú ý, lạm phát tăng cao đẩy lãi suất tăng cao để đảm bảo lãi suất thực dương chỉ là những cú shock và thực âm là nhất thời). Đầu tư thái quá (và không tạo ra giá trị gia tăng kém, ie. ICOR của khu vực công rất cao – search google sẽ có kết quả, ngay trước mặt là rất nhiều tập đoàn lớn và quá lớn đang rơi vào khó khăn) trong một thời gian dài càng làm chênh lệch tích lũy rộng ra, và đó là lý lo lãi suất ngày càng tăng ở phương diện mặt bằng chung. Tóm lại, cầu tiền quá mạnh (cung tiền chạy theo, CSTT chạy theo tài khóa) do nhu cầu đầu tư và tiêu dùng quá mạnh, nhập siêu lớn (I + C + NX). Để giảm dần độ lệch, phải giảm tổng cầu, gồm I + C + Giảm nhập siêu. Lãi suất cao thôi chưa đủ, vì hiện tại đã quá cao, cần phải thắt chặt định lượng, hút ròng (như DTBB thì không sử dụng hiệu quả!)

2.Phía còn lại là Chính sách tài khóa! Cắt giảm đầu tư công, nhưng giảm thế nào? Các số liệu công bố quý I cho thấy đầu tư vẫn ở mức cao một cách bình thường! Đầu tư công ở mức cao, số cắt giảm kế hoạch rà soát thì rất khiêm tốn! 3.400 tỷ!

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội theo giá thực tế thực hiện quý 1/2011 ước tính đạt 171.500 tỉ đồng, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2010, trong đó, vốn khu vực Nhà nước 76,4 nghìn tỉ đồng, chiếm 44,5% tổng vốn và tăng 15,2%. Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước thực hiện quý 1 năm nay, vốn từ ngân sách nhà nước ước tính đạt 38,9 nghìn tỉ đồng, bằng 21,2% kế hoạch năm và tăng 19,6% so với cùng kỳ năm 2010[2]. Có nghĩa là cung ứng một lượng tiền lớn cho đầu tư và tín dụng chiếm một phần khoảng 50% trong đó – và còn dư địa rất lớn trong vốn đầu tư từ ngân sách kế hoạch năm (mới chiếm chỉ 21.2%! bao gồm 152 nghìn tỷ phê duyệt ngân sách và tổng vốn từ trái phiếu phát hành tính net, tổng phát hành trừ đi đáo hạn khoảng 45 nghìn tỷ). Câu hỏi đặt ra là có triệt để thực hiện hay tiếp tục…vượt dự toán (bao gồm cả vượt ngân sách).

Tinh thần có, đường lối có, chủ thể có (NHNN, BTC) công cụ có (công cụ CSTT thắt chặt, CS tài khóa thắt chặt) nhưng chưa thể hoặc không thể vận hành theo ý muốn! Quả là ngược…!

Hiện tại, giải pháp đang thực hiện là thắt chặt đầu tư công, nhưng với tiến độ kiểu này thì chắc chắn là chưa triệt để. Đồng thời, có hiện tượng thắt chặt kiểu vơ đủa cả nắm cũng không có hiệu quả và gây nên hiện tượng tiêu cực: bộ phận doanh nghiệp ngoài công lập không còn vốn để duy trì hoạt động, đó là tình hình hiện tại. Như vậy, thắt chặt chung chung là chưa đủ, cần làm thêm việc rà soát và chuyển vốn ưu tiên cho những dự án cần thiết: vốn đi vào đúng mục tiêu, hay nói cách khác là phân bổ lại dòng tiền.

3. Gần đây, [khi tỷ giá giảm, người bán USD nhiều] có nhiều ý kiến cho rằng, lực bán USD tăng mạnh, chuyển sang gửi vào NHTM sẽ là có tính hiệu tốt cho việc giảm lãi suất VND! Giảm hay không? Câu trả lời là không! Vì tiền VND đâu mà NHTM mua USD? Tổng thể lượng cung tiền vẫn không đổi, chỉ chuyển từ dạng này sang dạng kia. Lãi suất chỉ giảm khi cầu tiền giảm hoặc cung tiền tăng trong ngắn hạn. Do đó, nếu chuyển sang VND, cầu tiền VND trước tiên là tăng lên, mà cung VND không tăng, NHTM phải sử dụng VND để mua USD, càng đẩy VND nóng hơn. Cung tiền chỉ tăng khi: MB tăng, DTBB giảm, lượng tiền mặt trong xã hội – ngoài hệ thống NHTM giảm, điều này chỉ đúng khi lượng USD lưu thông bên ngoài hoặc trong hệ thống NHTM (như phương tiện thanh toán) và giờ vào hệ thống được chuyển đổi sang VND và nằm trong hệ thống NHTM đó đồng thời với động thái SBV phải bơm VND để hấp thụ lượng ngoại tệ này (về bỏ két), tức là, chuyển lượng tiền thanh toán qua VND với tổng nhỏ hơn tổng của ngoại tệ và VND ban đầu, lúc đó, lãi suất VND có cơ may giảm (tất nhiên, nếu lớn hơn thì sẽ giảm, nhưng đó là tăng cung tiền tổng thể!) Hoạt động này có thể thông qua nghiệp vụ mua Spot hoặc nghiệp vụ SWAP.

Chính sách tiền tệ tiếp tục duy trì lãi suất cao, đồng thời, NHNN có thể tận dụng lúc lực bán USD mạnh để mua USD nhằm nâng cao dự trữ ngoại tệ, phục vụ cho hoạt động nhập siêu, trả nợ nước ngoài (nhập siêu vốn chưa có dấu hiệu giảm theo tin thần NQ 11! tất nhiên phải mua USD). Giải pháp này đồng thời cung ứng tiền ra cho NHTM, tuy nhiên, rút kinh nghiệm bơm tiền quá mức, phải rút ngay đồng thời bằng hoạt động OMO hoặc phát hành Tín phiếu (tất nhiên phải trả lãi suất) để hấp thụ. Giải pháp này là linh hoạt và “lấy ngắn nuôi dài” cho hệ thống NHTM ổn định thanh khoản, hạ nhiệt thị trường liên NH đồng thời đảm bảo không tăng quá mạnh cung tiền.