Tags

Nhân có comments của bạn Minh về chủ đề rất thú vị, tôi post riêng ra một entry để sau này có thể tiếp tục và các bạn tiện theo dõi cũng như chia sẽ ý kiến.

[Về valuation, bạn có thể tham khảo thêm một số sách viết về vấn đề này như của A. Damodaran và xem một số phương pháp trong đó, chủ yếu phân tích các caveats của nó, cùng với các nghiên cứu của Pablo Fernandez,…]

Đối với Riêng NHTM, người ta ít sử dụng phương pháp CF (CFC, FCFF, FCFE) (absolution valuation) vì CashFlow của NH vô cùng phức tạp, khó xác định và mức độ volatility rất lớn, từ đó, giá được định ra cũng sẽ biến động rất mạnh khi thay đổi cashflow.

Trong NH, người ta thường dùng phương pháp DDM với 2 đến 3 stages, bên cạnh đó, phương pháp Multiple (so sánh) là phổ biến nhất (như P/E, P/B, PEG,…) (hay còn gọi là Relative valuation) để tiện so sánh với các peer group (industry) trong nước và khu vực sau đó điều chỉnh lại tỷ số với những so sánh về growth, ROI, risk, size để sellect giá trị P/E, P/B cuối cùng.

Phương phap RE (Residual Earning hoăc Income như bạn nói) dựa trên giả thuyết rằng, giá trị tạo ra cho cổ đông trong tương lai chỉ là phần còn lại của Net Income sau khi loại bỏ đi chi phí Vốn CSH (equity), chiết khấu dòng tiền còn lại này như các phương pháp khác, sau đó cộng vào phần Book value tại thời điểm định giá. Chi phí VSCH được tính toán (expected) thông qua nhiều cách, phổ biến là Mô hình CAPM (Ke) hoặc tham chiếu từ những quốc gia khác. Phương pháp này thường được dùng trong định giá các banks. (ex: Bạn có BVPS là 10.000 VND, Net income năm thứ 1 là 2.500 bio VND, Equities (average) năm 1 là 10.000 bio, Ke 20%, vậy Cost of E là 20%*10.000 = 2.000Bio, do đó, RE = 2.500 – 2.000 = 500 bio, các năm kế tiếp bạn cứ tính như kiểu tính FCF, ta sẽ có một dòng tiền gọi là RE Flow, chiết khấu dòng tiền này về hiện tại theo suất chiết khấu chính là Ke, cộng với BVPS sẽ được Price.) (Mục chiết khấu dòng RE với suất chiết khấu Ke gọi là MVA – Market Value Added)

EVA (tương tự như RE), dựa trên quan điểm về giá trị tăng thêm, EVA = NOPAT – C.Total Capital (với C là Chi phí vốn bình quân của Tổng Capital đầu tư trong từng năm, WACC). Sau đó chiết khấu về hiện tại của dòng EVA. Khi đó, MVA chính là dòng EVA chiết khấu tại suất chiết khấu WACC. Thị giá sẽ là MVA + BV

Một cách khác là Market – to – market based Valuation: Tức là dùng market – to – market based để điều chỉnh lại tất cả các tài sản hiện tại của một NHTM, đặc biệt là các đất đai và các quyền (kiểu như NAV) sau đó tính cho per shares sẽ ra giá trị CP. Loại này ít sử dụng.

Ngoài ra còn có nhiều PP khác như APV (Adjusted presented Value), CVA (Cash Valued Added) ….chẳng hạn có thể tóm gọn trong 6 nhóm như sau (và các biến thể):

Source: Pablo Fernandez

EP (Economic Profit) chính là RE thông dụng nhất (như ví dụ ở trên)

Đây là một chủ đề thú vị và rất rất nhiều quan điểm, tôi sẽ tiếp tục.

Advertisements