Tags

, , , ,

Thử nhìn (định tính) về assets quality của các NHTM trước việc tăng lãi suất cực mạnh!

1. Thị trường lãi suất tăng mạnh, lãi suất ngắn hạn tăng mạnh hơn dài hạn (spread giữa loại longterm vs short term thu hẹp lại) dưới tác động của thanh khoản, lãi suất chính sách tăng đẩy lãi suất ngắn hạn tăng mạnh và lạm phát gia tăng đẩy lãi suất dài hạn tăng lên. Có ba loại rủi ro xuất hiện ở vùng lãi suất cao này.

Thứ nhất, rủi ro lãi suất do các NHTM đã kinh doanh chênh lệch lãi suất (Interest rate arbitrage) tạo nên một mis-match trong GAP lãi suất. Đa số đều có GAP âm ít nhất cũng từ 6 month trở xuống, điều đó có nghĩa là, khi lãi suất tăng lên, lãi suất ngắn hạn tăng mạnh lên thì rủi ro xuất hiện rất lớn (dòng tiền nợ phải định lại lãi suất (cao) nhiều hơn nhiều so với dòng tiền của tài sản định giá lại (điều chỉnh lãi suất).

Thứ hai là, rủi ro định giá lại, based market to market. Trong năm 2008 khủng hoảng xuất hiện, sau đó, sự “gia cố” của SBV trước những cú shock bằng cách kích thích NHTM nắm giữ nhiều TPCP (TT13, 19). Trong đó, phần lớn, các NHTM đã bị mất cân đối về thanh khoản (maturity mis-match) do hoạt động cho vay quá mức bằng các nguồn tài trợ ngắn hạn (huy động chủ yếu là dưới 1 năm, trong đó, tập trung vào các kỳ hạn 1, 2, 3 tháng, trong khi cho vay ít nhất cũng từ 6 tháng đến 1 năm trở lên), nay lại “bồi” (absorb) thêm hàng loạt long term assets (GBs chủ yếu trên 1 năm, 3 – 5 năm là phổ biến). Chú ý rằng, sau khủng hoảng, tổng tài sản hệ thống NHTM vẫn tăng mạnh mẽ (bao gồm tín dụng để phục vụ chính sách kích thích kinh tế hồi phục và TPCP tăng mạnh lên) lãi suất ngắn hạn giảm xuống, spread nới rộng ra trong một thời gian dài (rõ ràng, trong chừng mực nào đó, chiến lược exit strategies (unwind) của SBV là khá chậm, để bây giờ, lạm phát tăng cực mạnh và phải thắt chặt) càng kích thích hoạt động Interest rate arbitrage. Khi đường cong lãi suất tịnh tiến đi lên, đặc biệt, ngắn hạn tăng mạnh hơn, loạt tài sản này giảm giá nghiêm trọng, kết hợp với một thị trường illiquidity dẫn đến không dễ để các NHTM thanh lý các tài sản dài hạn. Rủi ro “cháy tài khoản” này đang tồn tại.

Thứ 3 là rủi ro thanh khoản: tác hại ngoài chuyện mất thanh khoản đó là chi phí rủi ro thanh khoản quá lớn! Để “xoay” được thanh khoản (funding) ở mức cao (do maturity mis-match, maturity GAP lệch quá lớn), các NHTM sẽ huy động thêm vốn mới với mọi giá (ie, interbank market ~ trên 20%/năm)! Bao gồm cả những khoản dài hạn, chi phí bị đẩy lên cao sẽ “ăn” vào lợi nhuận, trong khi, nền kinh tế cần một thời gian dài để hấp thụ nguồn vốn lãi suất cao này.

Nhìn vào assets size của các NHTM, rõ ràng, tốc độ tăng nhanh nhất thuộc về các NHTM nhỏ! Không hẵn tất cả các tài sản đều phân bổ vào loans, trong đó, phần lớn vào bonds càng tạo nên chênh lệch kỳ hạn khủng khiếp hơn! Duration của liabilities so với của Assets (averages) có thể đã lên mức báo động, buộc các NHTM này phải “xoay” vốn và rơi vào vòng xoáy lãi suất cao – thanh khoản cạn!

3. Lãi suất tăng cao không quên đến vấn đề quan trọng không kém là nợ xấu [loại này vừa ảnh hưởng đến thanh khoản, và gián tiếp đến lợi nhuận (do chi phí thanh khoản tăng lên) vừa ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận)! Tôi sẽ đề cập trong một entry khác.

4. Có vẽ như rằng, SBV không kiểm soát được quy mô tăng trưởng của hệ thống NHTM mặc dù kiểm soát (trên con số, balance sheet) cung tín dụng và huy động vốn! Chính sự vụ không kiểm soát được “phần bên trong” này, đặc biệt là maturity mis-match and interest rate risk, nên thật khó khăn cho việc đề ra một chính sách tiền tệ nào, đặc biệt là thắt chặt!

Advertisements