Tags

,

Dự trữ bắt buộc được sử dụng để giảm cung tiền trong nền kinh tế (khi lạm phát xảy ra, mất cân đối tiền và hàng hóa) bằng cách giảm cung tiền (giảm MM) thông qua việc cung ứng tín dụng của hệ thống NHTM ra nền kinh tế giảm xuống (DTBB vừa tác động đến cả MB & MM). Do đó, chỉ xem xét tăng DTBB khi các công cụ khác (LS, OMO) chưa làm tròn vai trò giảm cung tiền, trước tiên là cung tín dụng. Hơn nữa, để sử dụng DTBB, cần xem xét đến thanh khoản hệ thống (khác với công cụ LS), loại DTBB tác động trực tiếp đến thanh khoản hệ thống.

Tình hình tăng trưởng tín dụng 3 tháng đầu năm, theo số liệu không chính thức tôi thu thập được là 4.43% (vs cuối năm 2010), trong đó, VND tăng khoảng 0.98% và ngoại tệ tăng khoảng 12.14%, tổng cung tiền tăng khoảng 2% (kế hoạch cả năm, tín dụng không quá 20%, cung tiền không quá 15 – 16%)

Nếu so với quý 1 năm 2010 thì đang cao hơn: quý 1/2010, tín dụng tăng 2.95%, VND tăng 0,57%, ngoại tệ ước tăng 14,07% so với tháng 12/2009 (cả năm 2010, tín dụng tăng 29.81%, tăng trưởng tín dụng bằng VND là 25,34%, trong khi bằng ngoại tệ lên tới 37,76%, cung tiền tăng đến 25.3%)

So với năm trước, năm nay áp lực lạm phát là lớn hơn nhiều (biết rằng, chính sách vĩ mô cần có độ trễ của nó)! CPI 3 tháng đầu năm tăng 6.12% YTD và 13.89% YoY, trong khi đó, năm 2010, CPI 3 tháng đầu năm tăng 4.12% YTD và 9.46%YoY.

Do đó, nên tăng DTBB USD để hạn chế tín dụng mở rộng của ngoại tệ? Tăng DTBB vừa hạn chế được tăng cung cũng như hỗ trợ tỷ giá ổn định hơn. Mức DTBB USD hiện tại là 2% (loại từ 12 tháng trở lên) và 4% (loại dưới 12 tháng), có thể xem xét tăng lên khoảng 8%.

Đối với VND, chưa nên tăng hoặc tăng nhẹ khoảng 1% (hiện tại là 1% và 3%). Lý do, tín dụng tiền đồng vẫn ở mức thấp và có khả năng kiểm soát, thanh khoản hệ thống NHTM không tốt, thể hiện qua việc tăng cường huy động các kỳ hạn ngắn cũng như lãi suất liên ngân hàng và lãi suất Repo song phương tăng mạnh lên mức rất cao mỗi khi SBV hút tiền trên OMO.

Yếu về thanh khoản là do sự mất cân đối trầm trọng trong hoạt động quản lý kỳ hạn dẫn đến mismatch và khả năng trả nợ của KH (DN) khó khăn. Dòng tiền vào chủ yếu từ các khoản cho vay có kỳ hạn tối thiểu từ 6 – 12 tháng, trong khi dòng tiền ra (huy động) trong khoảng 3 năm trở lại đây chủ yếu là ngắn hạn (1,2,3 tháng), dòng tiền vào còn bị hao hụt do DN không có khả năng trả nợ sau một thời kỳ dài quá khó khăn như 2 năm vừa qua. NHTM trong tức thời, không có nguồn tiền thanh khoản, phải vay trên liên NH và OMO và thỏa thuận lãi suất các kỳ hạn ngắn với KH nhằm giữ khoản tiền đáo hạn đó lại bằng mọi giá!

Tăng LS chính sách lên cao để tự NHTM dần cân đối được nguồn vốn, tổng cầu (AD) giảm khi C và I giảm trước áp lực lãi suất cao. Tuy nhiên, những biểu hiện cho thấy, cho vay có thể tăng chậm lại, nhưng huy động lại chưa tăng! Hoặc có sự thay đổi chuyển dần từ kỳ hạn dài sang kỳ hạn ngắn và rất ngắn (1w, 2w) do khách hàng lo ngại những biến động (tăng) lãi suất, lạm phát và cũng như tâm lý gửi ngắn để sẵn sàng rút chuyển sang NHTM khác có lãi suất cao hơn. Điều này càng làm cho nguồn vốn của các NHTM căng thẳng hơn, thanh khoản yếu hơn! Tăng DTBB lại có thể có hậu quả lớn! Huy động chưa tăng thì chưa thể hút bớt cung tiền, và đó là thất bại của chính sách tiền tệ hiện tại. (dùng lãi suất cao để hạn chế tổng cầu, nhưng lại quy định trần lãi suất! cầu (I, C) vẫn mạnh, tín dụng vẫn tăng, dòng tiền gửi vào hệ thống NHTM chưa cao do mặt bằng lãi suất chưa tương xứng,…)

Điều này có thể lý giải ở việc mâu thuẩn trong sử dụng chính sách tiền tệ một cách cơ bản: Điều hành CSTT chỉ có thể là theo cung tiền hoặc theo mục tiêu mức Lãi suất, không thể đồng thời kết hợp cả hai! Tại sao có thể giảm cung tiền mà vẫn giữ nguyên mặt bằng lãi suất?!

Do đó, theo tôi, tiếp sau đợt tăng LS chính sách vừa rồi, SBV nên xem xét tăng DTBB USD và “thả” (hoặc tăng) trần lãi suất hiện tại, hay ít nhất, cũng chỉ quy định trần LS cho các kỳ hạn ngắn hạn, như từ 6 tháng trở xuống.

Những biểu hiện tăng tín dụng hiện tại (cao hơn so với cùng kỳ năm trước), do đó, có thểm xem xét tăng DTBB VND khoảng 0.5 – 1% một cách thận trọng!

Mặt khác, giải quyết vấn đề thanh khoản một cách căn cơ, mà không hành chính (tác động vào lãi suất) phải tập trung vào kiểm tra, giám sát các NHTM về thanh khoản và hoạt động quản lý thanh khoản, nếu NHTM nào có khả năng gây nên rủi ro cao cho hệ thống về thanh khoản phải đặt vào diện kiểm soát đặc biệt và có các biện pháp trừng trị như: không được mở rộng mạng lưới, tăng DTBB,… Công cụ quản lý giám sát cơ bản là quản lý thanh khoản bằng hệ thống bảng GAP Liquidity Risk với các Tenor Gap “dày” hơn! Ví dụ: 1w, 2w, 1mth, 2mth, 3mth, 6 mth, 1y với tỷ lệ GAP đồng thời có chiến lược xử lý cho việc duy trì ở từng mức báo động nhất định (cấp, level), GAP ratio (negative) vượt quá 10% thì sẽ như thế nào, 20% thì sẽ xử lý ra sao, có như vậy, mới chấn chỉnh được thanh khoản chắc chắn hơn, LS hợp lý với đường cong lãi suất phù hợp hơn.

Hiện tại, SBV vẫn kiểm soát thông qua tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (không quá 20%) Và bảng GAP thanh khoản (theo TT13), tuy nhiên bảng này rất “loảng” và dễ dàng dùng thủ thuật “vượt qua”, tỷ lệ vốn ngắn hạn sử dụng tối đa cho vay trung dài hạn thì quá lỏng lẽo, đặc biệt hai từ “ngắn hạn” và trung, dài hạn là rất rộng và hàm chưa rất nhiều rủi ro!

Về tăng DTBB, gần đây, nhiều báo đài, tổ chức phân tích rằng nên tăng lên tầm 7 – 8% một cách chung chung (cả VND & USD?!), tôi nghĩ là không tưởng! Con số đó áp dụng cho ngoại tệ thì được, nhưng đối với VND thì quá gắt (tăng thêm 5%! vốn khả dụng giảm cũng khoảng…100 nghìn tỷ, cung tiền giảm theo là rất lớn) Đừng lấy Trung quốc (PboC) ra làm ví dụ khi DTBB của họ tăng lên đến 20%! Hệ thống NHTM của họ khác, vốn xã hội của họ dồi dào, NHTM huy động vốn trong nền kinh tế rất lớn với lãi suất thấp, lãi suất thực âm (do chế độ trần – sàn lãi suất của TQ cũng như đảm bảo cho NHTM một NIM ổn định để hoạt động, không sợ rủi ro), thực tế, DTBB của TQ luôn ở mức cao trong một thời gian dài (trên 15%) và chỉ được tăng lên một cách từ từ theo từng lần với mỗi mức khoảng 0.5%/lần!

Advertisements