Tags

,

Trên CafeF có bài viết về TT Trái phiếu Việt Nam. Trong đó có điểm nỗi bật là chưa tạo ra một Yield Curve làm Benchmark cho thị trường và quy mô thị trường bonds. Có một số random thoughts như thế này:

1. Trong việc tạo dựng đường cong chuẩn: Phải tạo “sân chơi” và sản phẩm để thể hiện tất cả những rủi ro, kỳ vọng, triển vọng thị trường (kinh tế vĩ mô) cũng như những yếu tố cấu thành (yield curve function) đường cong lợi suất vào đó [1]:

* Tôi thấy BTC trước tiên, nên nghiên cứu đưa vào phát hành thí điểm Trái phiếu đảm bảo theo lạm phát (TIPS1, và 2) (cùng với thị trường trái phiếu Zero Coupon), loại này có nhiều vai trò quan trọng trên thị trường tài chính – tiền tệ: inflation expectation, breakevent point curve để thị trường tham khảo xu hướng, tham chiếu rủi ro lãi suất.

* Tạo lập thị trường trái phiếu phái sinh (bond swap, forward -> forward rate và là implicit rate cho shorterm tiếp theo) phát triển hơn để phản ảnh hết những rủi ro và triển vọng mà những nhà đầu tư chuyên nghiệp dự báo trước “vẽ” nên. Hiện nay, có rất ít NHTM (chủ yếu là nước ngoài) có swap và đầu cơ bond theo kiểu kết hợp nhiều công cụ (như một repo + forward),…Đó cũng là những yếu tố có thể tạo được thông tin hữu ích về vĩ mô của nền kinh tế.

* Có tổ chức thu thập, tổng hợp lợi suất và kỳ đáo hạn (duration) của thị trường tương ứng với giao dịch để “vẽ” nên Yield curve, việc “vẽ” này đòi hỏi phải “fill” những kỳ hạn trống (không có giao dịch) bằng một số thuật toán, hay sử dụng dùng dùng hàm Interpolation (linear and curvilinear) khi biết được một số kỳ hạn khác [2]

2. Nhật làm như thế này để phát hành TPCP! (Nợ của Nhật chủ yếu là nợ trong nước, vì nguồn lực vốn xã hội mạnh, nên có lẽ, Nhật “rũng rẽng” trong việc đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là ODA và bù đắp lại Doanh nghiệp trong nước bằng các hợp đồng cung cấp sản phẩm béo bở!)

3. Điều thứ 2 khi trong bài báo nhắc đến đáo hạn nên tôi nhớ đến … Trung Quốc vừa rồi. Không rõ là trong thời gian tới, schedule liquidate của TPCP là như thế nào, với quy mô như vậy, đáo hạn khoảng 10% trong quý/tháng tới sẽ làm cung tiền tăng lên gần bằng một nữa so với mức mà SBV dự định thắt chặt (đối với CSTT) trong năm, nên chính sách thắt chặt rất dễ bị thất bại!

Trung Quốc trong tháng 2 vừa rồi, đã nâng dự trữ bắt buộc lện 19.5% một phần vì có một lượng bond đáo hạn trong thời gian tới.

Updated: 24/03/2011: TPCP đáo hạn trong năm nay:

Theo số liệu của CafeF, đáo hạn năm nay của TPCP là hơn 40 nghìn tỷ đồng (cũng tương đối cao so với số tiền SBV muốn giảm thông qua CSTT thắt chặt là 50 nghìn tỷ, xem entry trước). Phần lớn TPCP nằm trong tay các NHTM, và như vậy, họ đã được tăng thêm chừng ấy tiền. Đó cũng là nguyên nhân tăng cung tiền. Đặc biệt, khi TPCP phát hành mới không hấp dẫn nữa và SBV thì đang “ráo riết” hút tiền qua OMO. Nếu không kiểm soát chặt, có khả năng CSTT thắt chặt sẽ bị giảm/mât tác dụng (cùng với trần lãi suất như hiện tại), nhất là kiểm soát tăng trưởng tín dụng!

Thứ 2 là, có lẽ BTC chịu rủi ro lãi suất lớn, lãi suất huy động cho loại bond chỉ là 8.57%/năm, lãi suất hiện tại đã tăng lên (loại 1 – 5y cũng từ 11.5 – 12%/năm)!]

————

[1] Tôi trích lại phần đã viết trong một entry trước đây:

[Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất hình thành dựa trên một số lý thuyết], Bao gồm: Lý thuyết về kỳ vọng (Expectations theory), vì hai loại bond trên khác nhau hoàn toàn do đó, kỳ vòng gắn liền với một cái neo danh nghĩa là khác nhau. TP thông thường gắn liền với neo kỳ vọng về lãi suất danh nghĩa trong ngắn hạn và kỳ vọng về lạm phát. Trong khi đó, TIPS lại kỳ về lãi suất thực ngắn hạn. Lý thuyết phân khúc thị trường đề cập đến Cung và cầu độc lập đối với mỗi kỳ hạn (trong thị trường lãi suất) hoặc mỗi loại trái phiếu khác nhau. Do đó, có sự khác biệt giữa nhu cầu TIPS (xem như real yield) và nhu cầu Norminal. Ở đây tôi không nhắc đến nhu cầu ngắn hạn và dài hạn đối với mỗi loại trái phiếu. Bên cạnh đó, sự khác biệt thể hiện nhiều vấn đề liên quan đến lý thuyết về phần bù rủi ro thanh khoản hoặc ưa thích sự thanh khoản (Liquidity risk premium theory), nói chung, lý thuyết này đo lường sự biến động của trái phiếu khi cần thanh khoản, hay nói đúng hơn, loại nào biến động mạnh sẽ có phí này cao hơn. Do đó, loại TIPS biến động mạnh hơn so với loại Norminal bonds, bởi vì nó gắn với một lãi suất chiết khấu biết động hơn. Như vậy, trong tương quan so sánh phần bù rủi ro tổng thể, loại này phải được công thêm một tỷ lệ “phần bù rui ro thanh khoản” so với trái phiêu thông thường. Phần bù rủi ro lạm phát (dự tính), Inflation risk primium như là một mức bảo hiểm cho sự “chệnh:” ngoài kỳ vọng về lạm phát (lạm phát cao hơn, hoặc lãi suất danh nghĩa thấp hơn), ảnh hưởng đến thu nhập thực tế (vì nếu lạm phát cao hơn hay lãi suất danh nghĩa thấp hơn dự tính sẽ làm thu nhập thực tế giảm xuống). Mức này ở thị trường Mỹ thường dao động từ 1/3 đến 2/3% (cụ thể từ 0,21% – 0,69%), bình quân khoảng 0,5%. Lạm phát kỳ vọng được đo hiện nay khoảng 2 – 2,5% và lợi suất TIPS đang cận 1%.]

Trong khi đó, Lý thuyết kỳ hạn ưu thích (Prefered Habitan Theory) cho rằng, mỗi nhà đầu tư sẽ yêu cầu một phần bù lợi suất để đảm bảo họ đầu tư vào kỳ hạn “khác” với vùng mà họ yêu thích, ưu tiên.

[2] Một cách fill các kỳ hạn còn thiếu như Linear hoặc Curvilinear (Cubic spine line interpolation):
Source đồ thị tôi lấy từ ACI Dealing Certificates cources doc, ATTF Luxembourg, 2009