Một bài viết của Ts. Quách Mạnh Hào đăng trên CafeF: Giảm lãi suất mới là lời giải cho ôn định kinh tế vĩ mô. Nghe, hiện tại có vẽ mâu thuẫn, nhưng là hợp lý nếu…

Thực thi CSTT vẫn dựa trên quan điểm tăng trưởng kinh tế đánh đổi với lạm phát và ổn định vĩ mô. Tôi thấy ý kiến của Ts Hào là chính xác với kỳ vọng lạm phát sẽ giảm trong khoảng 2 tháng tới. Tuy nhiên, độ trễ của chính sách cần có sự quan sát chặt chẽ không chỉ dựa vào lạm phát mà còn dựa vào năng lực sản xuất, chỉ số sản xuất công nghiệp, hàng tồn kho,…

Từ lịch sử, chúng ta thấy rằng, thực tế, VN đang chọn hướng tăng trưởng cao và lạm phát cao, cụ thể rằng, lạm phát luôn duy trì khoảng 8% và hơn trong một thời gian dài, đó là sự hy sinh cho tăng trưởng (dù chưa phản ánh đúng chất lượng của nó và gần đây nhiều ý kiến cho rằng nên hy sinh tăng trưởng đi chút ít để giảm lạm phát), tăng trưởng cao, bình quân từ 7 – 7,5%/năm trong thập kỷ qua, nên sẽ không có chuyện lạm phát đình đốn (do phía cung suy giảm!). Người thực thi CSTT sẽ không mạnh tay như thế!!!. Tôi cũng vẫn cho rằng, chỉ cần lạm phát giảm xuống là CSTT sẽ nới lỏng tương ứng (dễ thấy nhất là có năm nào tín dụng và tổng phương tiện thanh toán của chúng ta thấp đâu, mặc dù có lúc chống lạm phát ở mức gần 30%, nhưng chỉ theo từng thời kỳ nhất định trong năm, khi tình hình bớt nóng, SBV sẽ tiếp tục cung ứng ngay ! cuối cùng, các chỉ tiêu cung tiền trong năm vẫn rất lớn!)

HIện tại, duy trì lãi suất cao và thắt chặt là cần thiết (xem 1, 2). Thắt chặt tiền tệ, cả tổng cung và tổng cầu đều suy giảm, tổng cầu theo thông thường là suy giảm nhanh hơn, dẫn đến giá cả sẽ giảm xuống. Cho dù nguyên nhân là giá cả thế giới tăng (chúng ta vẫn cứ cho là vậy, chi phí đẩy) thì nói về lạm phát, tức giá đồng tiền bị giảm đều xuất phát từ yếu tố tiền tệ (như tăng cung tiền, dẫn đến nhập khẩu lạm phát đó vào VN). Lãi suất cao còn lạm nhiệm vụ hỗ trợ cho tỷ giá duy trì ổn định trong một thời gian tới.

Thị trường trái phiếu có thể là một nút thắt trong việc làm giảm lãi suất sau khi lạm phát có dấu hiệu suy giảm. Mặc dù quy mô chưa cao (Trái phiếu so với GDP), nhưng, hình như, tính cơ cấu của TT trái phiếu đang bất ổn. Lãi suất nó thể hiện không phản ánh được lãi suất tối thiểu của một nền kinh tế, khi vốn trái phiếu bị bội thực (nền kinh hấp thụ không hết nguồn từ TP này và không mang lại hiệu quả do yếu tố đầu tư mở rộng một cách chủ quan), làm cho lợi suất luôn phải đẩy lên cao (giá giảm!), do đó, mặt bằng LS tham chiếu nâng lên, trái phiếu doanh nghiệp sẽ cao hơn, chi phí cao hơn, lợi suất yêu cầu của các NHTM cũng phải cao hơn. Đồng thời, điều này cũng gây nên crowd out, dẫn đến sai lệch dòng tiền trong nền kinh tế và gây nên căng thẳng vốn (thay vì chảy vào nơi có hiệu quả cao – khu vực tư nhân)

Đối với chính phủ, vốn huy động với lãi suất cao, khiến chi phí tổng thể (vốn chủ sở hữu  của chính  phủ và vốn vay – trái phiếu chính phủ) càng tăng, tốc độ đầu tư công tăng cao, hiệu quả sẽ càng kém hơn. Vốn ra nhiều, hiệu quả kém, tức giá trị hàng hóa tương ứng tất yếu sẽ lạm phát.

Trong entry trước tôi có nói đến nghiệp vụ POMO, có thể sẽ được sử dụng điều tiết lãi suất mục tiêu, đồng thời, cũng làm cung trái phiếu giảm xuống, khi đó, vốn trái phiếu sẽ phản ánh đúng bản chất hơn và lợi suất TP cũng giảm xuống (điều kiện cần để giảm LS thị trường). Điều này có thể thực thi trong quý I hoặc II/2011 nếu như chỉ số giá có xu hướng giảm.

Vốn ngoại? Chính phủ cũng nên có sự “nghênh đón” một cách tỉnh táo và có chọn lọc. Một khi có được kỳ vọng ổn định, vốn nước ngoài sẽ vào mạnh hơn, khi đó, không như năm 2007 (sau khi gia nhập WTO) vốn ngoại vào ồ ạt dẫn đến lạm phát cao trong vài năm. Vốn FDI nên hướng đến những ngành SX sản phẩm hướng đến xuất khẩu, tạo được giá trị gia tăng, nâng cao công nghệ, năng lực quản lý từ yếu tố ngoại. Đó cũng là điều kiện cần để nâng cao việc thay thế hàng nhập khẩu bằng hàng nội địa cho các doanh nghiệp trong nước. Triệt để hạn chế dòng FDI vào các lĩnh vực có thể gây nên nhập siêu lớn (thâm hụt cán cân thương mại, nhập khẩu lạm phát do nhập nguyên vật  liệu) như đầu tư vào khu du lịch, bất động sản,…

Nếu vĩ mô ổn định, lãi suất giảm, dòng tiền mạnh lên, TTCK tất nhiên được hỗ trợ!

[Trong bài viết trên, tôi cũng rất thích từ mà tác giả dùng: “tín dụng tự nguyện”. Đồng thời, cũng bổ sung thêm rằng, trong môi trường lãi suất cao, vấn đề “lựa chọn bất lợi – adverse selection” luôn được nhắc đến như là nguy cơ rủi ro và lãng phí nguồn lực. Rủi ro càng lớn hơn với sự xuất hiện của rủi ro đạo đức (moral hazard), đó là, để đảm bảo cover hết được chi phí lớn, cần có những hoạt động bên ngoài những gì mà những doanh nghiệp, người đi vay cam kết để có thể thu lợi nhuận cao hơn!]

Advertisements