Tags

Permanent Porfolio

Tình hình hiện tại có thể lập một Permanent Porfolio – một danh mục đầu tư vào các chứng chỉ quỹ có lĩnh vực đầu tư khác nhau, class assets khác nhau như stocks, bonds, các metals quý, để đa dạng hóa và dựa trên sự chiết khấu trong một thời điểm để phân bổ tỷ trọng. Trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng hoặc trong quá trình tăng trưởng, tỷ trọng phân bổ vào các quỹ đầu tư vào các cổ phiếu tăng trưởng được ưu tiên, nếu thời kỳ lạm phát cao thì ưu tiên các quỹ đầu tư kim loại quý như quỹ đầu tư vào vàng, trong giai đoạn suy thoái hoặc khủng hoảng, đầu tư vào các quỹ đầu tư vào trái phiếu, tín phiếu là một ưu tiên. Tương tự như vậy, trong mỗi quỹ đầu tư từng class assets khác nhau lại phân ra những loại khác nhau để đa dạng hóa, ví dụ trong cổ phiếu thì có cổ phiếu tăng trưởng, cổ phiếu cổ tức, cổ phiếu để đầu tư giá trị,…

Các quỹ đầu tư tại thị trường Việt Nam là các quỹ đóng, hiện nay, tương đối hấp dẫn do mức giá chiết khấu đã xuống rất sâu. Dựa vào tình hình này, tôi lập một porfolio dựa trên các chứng chỉ quỹ này.

Năm loại chứng chỉ quỹ được listed hiện nay bao gồm: trong đó 3 quỹ thuộc quản lý của công ty VFM là VF1, VF4 và VFA, trong đó, VFA mới được thành lập và tiêu chí là “năng động” – đầu tư ngắn hạn dựa trên việc xác định các “sóng” thị trường dựa trên công cụ quant. VF4 là quỹ đầu tư vào các công ty tăng trưởng, bluechips.

Hai chứng chỉ quỹ còn lại là của Prudential là PRUBF1 – đây là quỹ đầu tư cân bằng với tỷ trọng tài sản bao gồm các trái phiếu tương đối lớn, đảm bảo sự an toàn với một mức sinh lợi tương đối chấp nhận được. Quỹ còn lại là của Manulife: MAFPF1 – quỹ đầu tư tăng trưởng, chỉ tiếc không có quỹ đầu tư vào vàng.

Tỷ lệ chiết khấu bình quân hiện nay của các CCQ là khá cao, cập nhật đến 26/11/2010, chiết khấu bình quân khoảng 34%.

Rất tiếc, với quan điểm của tôi và môi trường kinh tế cùng với đánh giá mức giá hiện tại, trong số trên, tôi chỉ đặc biệt yêu thích VF4 (như vậy danh mục quỹ chỉ có 1 CCQ). Đây được xem là quỹ BCs khi đầu tư vào các cổ phiếu tăng trưởng, các CP có thanh khoản tốt và có vốn hóa cao trên thị trường. Các cổ phiếu trong danh mục đều là những công ty đầu ngành, có tiềm lực tài chính, quy mô thị phần lớn, khả năng cạnh tranh cao và tham vọng. Lợi nhuận của các công ty này luôn duy trì được sự vững chắc. Đây là nhóm CP có mức tăng nhanh hơn khi thị trường tăng điểm và phù hợp với tình hình hiện tại là thị trường đang ở trong vùng đáy.

Tại ngày 26/11/2010, tôi ước tính, VF4 chiết khẩu hơn 36% so với NAV. Đây là mức chiết khấu tương đối cao, đảm bảo một mức margin safety tương đối lớn. Đồng thời, VNIndex đang được giao dịch ở mức thấp, có thể là đáy hoặc ít nhất có thể giảm nhưng không thể sâu hơn mức chiết khấu trên.

Discount Price vs NAV

Đánh giá chất lượng NAV

Để đánh giá chất lượng NAV, cần làm rõ các thành phần tạo nên nó, trong đó, nghi ngờ nhất vẫn là danh mục CP (listed or OTC), khoản còn lại là Cash and equivalent và các khoản nợ được xem như phần chắc chắn và rõ ràng.

Các nghĩa vụ của các Fund cũng tương đối rõ ràng, chủ yếu là Phí giao dịch, quản lý, lưu ký, lương, các khoản phí khác, đây là những khoản đã có quy định rõ ràng (% cụ thể). Trong kỳ báo cáo tháng 10, tổng các khoản nợ là 3,1 tỷ, chỉ chiếm 0,42% TTS – mức rất thấp.

Trong danh mục CP đầu tư, khoản có khả năng dùng để “thổi phòng” NAV chỉ có thể là CP OTC, tuy nhiên, loại này trong danh mục của VF4 chỉ chiếm có 2,90% NAV (tôi lấy tỷ lệ này kỳ báo cáo cuối tháng 10) nên ảnh hưởng không lớn. CP listed chiếm 95,72%, tổng danh mục CP chiếm 98,62% NAV. Cash và tương đương chiếm 1,38% NAV.

Với mức giá hiện tại là 5.400/CCQ, thì Net Price chúng ta chỉ bỏ ra ở mức 5.400*(1-1,38%) = 5.283 đồng.

Tôi chưa có báo cáo tài chính cho tháng 11, tuy nhiên, nếu giữ nguyên tỷ lệ trên, thì với NAV ghi nhận tại thời điểm 26/11/2010 là 8.452 đồng (xem), thì xem như chúng ta chỉ bỏ ra một khoản tiền là 5.275 đồng để mua một CP với giá trị thị trường 8.452*(1 – 1,38%) = 8.335. Mức chiết khấu là 36,11% hay P/B chỉ ở mức 0,63x.

Như vậy, với mức chiết khấu thấp hơn giá trị chiết khấu trung bình. Đồng thời, đây cũng là mức chiết khấu đủ an toàn khi thị trường đang ở vùng giá thấp và có thể là đáy. P/B thị trường ghi nhận ở mức khoảng 1,8x.

Diễn biến giá hiện tại đang nằm ở mức thấp nhất trong vòng 52w (cao nhất là 11.900) và chiết khấu khoảng 27% so với mức giá trung bình của CCQ này trong  52w.

Tỷ lệ phân bổ danh mục cổ phiếu của quỹ VF4: Cao nhất là Vật liệu & Khai khoáng chiếm 26,8%, Cơ sở hạ tầng & BĐS chiếm 23,5%, Hàng hóa công nghiệp chiếm 12,9%, Thực phẩm & Nước giải khát chiếm 7,6%, Bán lẻ chiếm 6,8%, các ngành khác chiếm 20,9%.

Về công ty quản lý (VFM)

Đánh giá CCQ  tất nhiên phải xem xét công ty quản lý quỹ đó. So với các công ty QLQ trong 5 CCQ trên, có lẽ, tôi không thích VFM bằng.

VFM tôi không có ấn tượng lắm, tôi không dám nói về năng lực, nhưng cũng ghi nhận được một số vụ việc đặc biệt. Đặc biệt mảng lợi ích giữa cổ động VFM và cổ đông các quỹ được quản lý (như VF1, VF4, VFA). Trong….lịch sữ đã ghi nhận một số sự việc…trớ trêu: quỹ đóng nhưng vẫn được tăng vốn (VF1, là quỹ closed end), để làm được điều này, tiết nhiên phải qua nhiều vòng! Và tất nhiên, để quyết tâm làm được điều này, đều xuất phát từ lợi ích của VFM chứ chưa hẵn lợi ích của VF1 (các cổ đông), thử nhìn xem, vốn của VF1 ban đầu là 1000 tỷ, sau đó được tăng thêm và lên đến hơn 3000 tỷ. Cổ tức cho các cổ đông VF1 vân ổn định khoảng 10%. Tuy nhiên, đối với VFM và cổ đông thì lại khác, VFM quản lý với phí khoảng 2% trên NAV của quỹ VF1, một mức tương đối cao khi so với các quỹ nước ngoài (khoảng từ 0,6% – 2%) trong khi hurdle rate theo cảm nhận, tôi thấy không cao lắm (GBs 10y yield + Primium khoảng…2%, hình như thế, mọi người check lại), nếu bằng cách nào đó, tăng NAV lên thì sẽ tăng được thu nhập của VFM lên. Cách nào là cách nào? Thông thường, các quỹ closed end fund chỉ có thể tăng NAV bằng cách cố gắng đầu tư đạt lợi nhuận cao, gia tăng NAV dựa trên gia tăng giá cổ phiếu trong danh mục, thì đằng này, VFM gia tăng NAV bằng cách….tăng vốn lên gấp 3 lần, và do đó, thu nhập của họ cũng tăng gấp 3 lần. Một thông lệ nữa, đó là, thường thì tăng NAV bằng cách tăng vốn (nếu có thể) là sẽ giảm phí quản lý xuống, đằng này lại không. Một vấn đề nữa, là BOD của VFM đăng ký mua CCQ VF1 nhưng sau đó…lại bỏ vì một số lý do! Tôi chỉ ghi nhận được chừng đó.

Tuy nhiên, đó là chuyện quá khứ, hiện tại, mọi thứ có vẽ minh bạch hơn, và tôi tin là vậy. Sẽ không có những ngoại lệ và trớ trêu khi các quỹ ở VN ngày càng cạnh tranh, chất lượng, nhà đầu tư có nhiều lựa chọn hơn, các cổ đông của quỹ được quản lý sẽ được ưu ái hơn, để sống được, các quỹ phải đặt lợi ích của cổ đông quỹ lên trên lợi ích của cổ đông công ty quản lý quỹ. Đặc biệt, Quỹ VF4 vẫn chưa xảy ra scandal nào.

Disclosure: Long VFMVF4

 

Advertisements