Tags

Tiếp tục quan điểm trong entry trước về việc giảm lãi suất để kiềm chế giá (nếu có!). Nhấn mạnh lại rằng, không phải giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn như đã làm trong thời kỳ khủng hoảng? Cũng không phải giảm mặt bằng lãi suất thị trường, vì như thế sẽ rất nguy hiểm.

Hiện giờ, phần nào chúng ta có thể thấy, bên cạnh những đóng góp hỗ trợ kinh tế hồi phục, thì hậu quả của các gói kích thích: hỗ trợ lãi suất (4%) và mặt bằng lãi suất thấp trong một thời gian dài đã bộc lộ: lạm phát và áp lực mất giá của tiền đồng. Điều này khi thực hiện, cũng đã dự báo. Nhìn nhận lại trong thời kỳ 2008 – 2009, chính sách của chúng ta rất tốt. Tuy nhiên, theo tôi, cũng vì mục tiêu phục hồi nên kinh tế nên chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa hơi quá đà. Chính sách tài khóa đã đưa đến chi tiêu quá đà và không hiệu quả trong đó có việc giảm thuế. Chính sách tiền tệ trong giai đoạn này là duy trì lãi suất thấp một thời gian quá dài dẫn đến lạm phát và tiền đồng mất giá.

Mục tiêu hiện tại là kiềm chế giá, giá tăng cao có nhiều nguyên nhân, trong đó có từ chi phí vốn cao [doanh nghiệp hạn chế đầu tư vì lo giải quyết gánh nặng nợ từ trước và hiện tại]. Nếu vì mục tiêu này để giảm lãi suất thì tôi nghĩ, nên thực hiện một quỹ hỗ trợ kiểu như quỹ bình ổn giá, nhưng ở đây quỹ này dùng hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp chủ lực có chọn lọc.

Giảm lãi suất có chọn lọc và bằng phương pháp…hỗ trợ lãi suất, cách theo tôi là hay trong giai đoạn khủng hoảng vừa qua. Hỗ trợ lãi suất có chọn lọc, có nghĩa là các DN được chọn lọc hỗ trợ lãi suất làm lãi suất thực vay giảm xuống. Còn mặt bằng lãi suất thị trường vẫn cao. Điều này để:

  • Giảm chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp sản xuất, cung ứng các mặt hàng chủ lực phục vụ tiêu dùng và bình ổn giá thị trường.
  • Đảm bảo LS VND huy động cao, hỗ trợ giá trị tiền đồng [có thể kết hợp với việc tăng Dự trữ bắt buộc USD]
  • Chống vàng, dollar hóa do hiện tại, LS USD đang ở mức cao, mặc dù LS thế giới ở mức rất thấp trong khi xu hướng vào vàng đang rất lớn.
  • Kiềm chế lạm phát.
  • Việc có chọn lọc ở đây cũng sẽ là giải quyết điểm yếu của gói kích cầu chúng ta đã thực hiện trong thời gian trước. Đó là không kiểm soát nỗi đường đi của dòng tiền hỗ trợ.
  • Xem thêm 1, 2

Như vậy, kích cầu tăng cao bằng việc kích thích đầu tư của các doanh nghiệp hiệu quả, tăng sản phẩm cung ứng với giá giảm, việc mở rộng đầu tư sẽ làm gia tăng thêm được công ăn việc làm, đối với doanh nghiệp xuất khẩu, sẽ cạnh tranh với giá vốn tốt, đồng thời chiếm lĩnh được thị trường nội địa nhằm hạn chế nhập siêu.

Điểm thuận lợi hiện tại đó là áp lực về đồng USD, dòng tiền nước ngoài đang có xu hướng hỗ trợ mạnh, khác với thời kỳ khủng hoảng là nguồn này bị hạn chế (rủi ro cao), nên áp lực lên nội tệ sẽ nhẹ hơn.

Tuy nhiên, cần tính toán, cân đối cẩn thận bởi sẽ gây áp lực lớn lên ngân sách và có thể là dự trữ ngoại tệ (nếu dùng)

Về tổng cầu, hình như trong nước chưa có dự báo nào về độ nhạy của tổng cầu với lãi suất. Thông thường, mặt bằng LS thị trường cao sẽ làm tổng cầu giảm do đầu tư giảm, chi tiêu của chính phủ giảm, tiêu dùng giảm (không tiếp cận được dòng tín dụng, giá trị tài sản giảm – do chiết khấu), cho nên, nếu thực hiện chính sách duy trì lãi suất thị trường cao, có thể gây nên sự suy giảm tăng trưởng. Cũng có ý kiến cho rằng, vì tỷ lệ tiết kiệm của nước chúng ta cao, nên nếu duy trì lãi suất cao sẽ là tăng tiêu dùng khi thu nhập từ các khoản tiết kiệm này tăng lên, nếu vậy thì đó là điểm thuận lợi cho việc giảm lãi suất có chọn lọc (hỗ trợ) trong khi mặt bằng lãi suất thị trường vẫn duy trì ở mức cao.

Advertisements