Tags

,

Brokered deposit.
Tiền ký thác từ môi giới. Thông thường cơ quan quản lý sẽ cấm một số NH nhận các khoản tiền này. Đây là những món tiền gửi tương đối lớn, do các nhà môi giới thực hiện do họ chuyển từ những NH có lãi suất thấp đến NH có lãi suất cao, người môi giới sẽ có tỷ lệ hoa hồng từ cả hai phía (người gửi và NH).

Trong năm 2008 và 2009, khi VN trong tình trạng lạm phát cao, lãi suất cao do các NH cạnh tranh chạy đua lãi suất, các NHTM và cơ quan quản lý cũng chống mặt với hình thức này. Đó cùng là nguyên nhân gây nên những bất ổn, mất thanh khoản trên hệ thống và cạnh tranh không lành mạnh giữa các NH.

Shadow bank.

Một hình thức nữa là “shadow bank”(*). Đây là những công ty “giàu” tiền mặt (cash), dòng tiền của họ tham gia vào thị trường tiền gửi ngắn hạn như trên thị trường liên NH. Các công ty này bơm thanh khoản cho các NHTM với lãi suất hấp dẫn. Loại này thì phổ biến trên thế giới, tuy nhiên, phần lớn là xuất phát từ chính sách quản lý tiền và nguồn nợ của các công ty này. Ở VN, trong những lúc khốn khó, một số NH có thanh khoản tốt, đã giao cho các công ty con(**) thực hiện các khoản gửi với LS cao. Trong năm 2010 (đến đầu tháng 10) khi SBV cấm các NHTM huy động vốn từ Thị trường 2 để cho vay và huy động không quá 20% tiền gửi từ TCKT & DC thì các NH khác “bơm” tiền cho một số NH thiếu vốn bằng hình thức này.

Cả hai loại này rõ ràng là quá nguy hiểm đặc biệt là các NH nhỏ, vì tính bất ổn định của nó.

———

(*): Chú ý, shadow bank ở trên chỉ là hình thức đơn giản. Shadow bank (ngân hàng mờ, ngân hàng trong bóng tối) là muốn ám chỉ các tổ chức tài chính phi ngân hàng (ngân hàng đầu tư, quỹ đầu tư, đầu cơ, công ty bảo hiểm, công ty tài chính,…) nhưng vẫn thực hiện một số hoạt động cho vay giống như ngân hàng. Một hình thức đầy đủ của hệ thống shadow bank là vô cùng phức tạp (và có thể không có khả năng kiểm soát!), thậm chí tổng nợ của một hệ thống shadow bank còn lớn hơn của hệ thống NHTM. Tổng nguồn nợ của các shadow bank có thê bao gồm tất cả giá trị các khoản giấy tờ có giá giao dịch trên thị trường mở, các khoản nợ của các định chế phát hành ABS (asset backed securities), tổng giá trị các khoản repo, các khoản cho vay chứng khoán, các khoản góp vốn bằng chứng khoán, tổng vốn của các quỹ thị trường tiền tệ,…! Từ đó, tác động của nó cũng vô cùng phức tạp và có thể làm nên khủng hoảng. Đây là những định chế có những hoạt động take risk như NH nhưng không phải chịu các quy định về quản lý rủi ro (vốn, thanh khoản, tín dụng,…), giám sát như các NH truyền thống. Đặc biệt, Bộ các quy tắc quản lý, giảm sát hoạt động NH như Basel, mới nhất là Basel III cũng được đánh giá là mới tập trung vào NH truyền thống, nếu “siết” các NH truyền thống về quản lý rủi ro, tài sản rủi ro, thanh khoan, năng lực an toàn vốn, thì có khả năng, các Shadow bank này (không bị ràng buộc bởi các quy định của Basel) sẽ bùng nỗ và chiếm lĩnh thị phần sinh lợi cao (rủi ro lớn) của các NH truyền thống. (Xem một nghiên cứu về shadow bank system ở đây!!!)

(**): Như hình thức đơn giản ở trên, điểm dễ nhận biết ở các công ty con loại này là: Tổng vốn phìn to một cách bất thường, tiền mặt tăng nhanh, khoản phải trả khác cũng tăng tương ứng với cash acct (do họ không ghi nhận là nhận tiền gửi – từ công ty mẹ, mà hạch toán vào phải trả khác), về các tỷ số, thì có thể thấy tỷ lệ Vốn or TTS so với vốn chủ sở hữu rất cao! Nói chung là mất cân đối giữa các tài khoản, quan sát cash flow statement thì rất bất thường và so với revenues thì càng phi lý hơn.

Phức tạp hơn, những công ty con này, có hoạt động liên quan đến các lĩnh vực rủi ro như bảo hiểm, bđs, quỹ đầu tư,… thì cần quản lý chặt chẽ liên quan đến những hoạt động shadow bank vì đơn giản rằng, khi các NHTM bị quản lý chặt thì họ chuyển hoạt động rủi ro này sang cho các công ty con để “lách” các quy định này.

Như vậy, về tổng thể hệ thống Shadow bank, chưa biết quy mô của loại này ở VN là bao nhiêu, tuy nhiên, một khi nó “to” lên (và chắc chắn là thế khi thị trường phát triển thêm các sản phẩm phái sinh, chứng khoán hóa,…), càng to, càng có quan hệ chặt chẽ với các NHTM, như vậy, một hệ thống mới là khổng lồ và không đơn giản để quản lý bằng một số quy định chỉ áp dụng cho các NHTM. Ví dụ, TTS (tổng vốn csh, nợ) của loại này có thể ngang bằng hoặc lớn hơn so với với hệ thống NHTM, như vậy một khi một sự đỗ vỡ, hoặc take risk quá cao (mà không bị ràng buộc về an toàn vốn) của shadow bank cũng là của NHTM. Vậy rủi ro đã double và mất kiểm soát!

Advertisements