Tags

, , ,

Sự việc PBOC tăng LSCB, một điểm chú ý đó là làm tăng lợi nhuận của các NH ở Trung Quốc vì biên lãi suất cho vay sẽ tăng lên.

Trên BW có nhận định: “Lợi nhuận của 11 NH được giao dịch rộng rãi ở Trung Quốc có khả năng tăng từ 3,9% đến 7,4% sau khi PBOC tăng lãi suất, trong đó, các NH lớn tăng khoảng 1,2% và các NH trung bình có thể tăng khoảng 2,2%”

Còn chuyên gia của Credit Suisse Group cho rằng “Họ (các NH Trung Quốc) được các nhà làm chính sách ban tặng cho một ân huệ sau khi bị bóp nghẹt trong vòng hơn một năm qua”.

Điều này theo tôi, có lẽ là do cơ chế Sàn – Trần lãi suất của PBOC.

Trước đây, PBOC cũng đã thực hiện cơ chế Trần – Sàn, quy định cả trần và sàn lãi suất cho vay. Cho tới năm 2004, trong nỗ lực đẩy mạnh quá trình tự do hóa lãi suất, thể hiện cung cầu thị trường, PBOC đã bỏ cơ chế trần lãi suất cho vay (ngoại trừ các khoản cho vay đối với hợp tác xã khi giữ nguyên trần không vượt quá 130% so với lãi suất Benchmarks) và sàn lãi suất huy động, tuy nhiên, vẫn giữ trần lãi suất huy động (Ceilling deposit rate). Họ dùng cơ chế này, để đảm bảo tránh sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng trong việc chạy đua huy động, thu hút khách hàng của nhau, đồng thời luôn đảm bảo an toàn cho các NHTM khi đảm bảo duy trì một biên lợi nhuận từ lãi suất (Gap, Net interest margin), cơ chế sàn lãi suất cho vay cũng có mục đích tăng cường phát triển thị trường vốn bao gồm cả thị trường trái phiếu.

Tuy nhiên, vì cơ chế này, nên người gửi tiền luôn “nằm” trong tình trạng thiệt thòi, khi lãi suất thực luôn âm (lạm phát cao hơn cả lãi suất tiền gửi tối đa!). Do đó, có nhiều ý kiến, áp lực buộc PBOC tăng lãi suất tiền gửi hoặc thay đổi cơ chế lãi suất, trước tiên là về trần lãi suất huy động.

Hiện tại, Sàn Lãi suất cho vay (Lending rate floor) theo quy định là không thấp hơn 10% so với lãi suất Benchmark (đây là lãi suất chính sách được PboC công bố, là lãi suất cơ bản, trong giai đoạn khủng hoảng, PBOC duy trì lãi suất này ở mức thấp nhất là 5,31%/năm cho loại cho vay 1 năm trong thời gian dài, ngày 19/10 vừa qua, họ đã tăng lãi suất này lên mức 5,56%/năm). Do đó, lãi suất cho vay hiện nay không thấp hơn 5%/năm.

Trong khi đó, cơ chế hiện nay, lãi suất huy động kỳ hạn 1 năm trở xuống không cao hơn lãi suất tiền gửi quy định (Deposit rate Benchmark) được PboC công bố (PBOC duy trì lãi suất này ở mức thấp nhất là 2,25%/năm cho loại huy động tiền gửi 1 năm trong thời gian dài, ngày 19/10 vừa qua, họ đã tăng lãi suất này lên mức 2,50%/năm). Do đó, lãi suất huy động tiền gửi hiện tại cho kỳ hạn ngắn hạn (dưới 1 năm) không vượt quá 2,5%/năm!

Rõ ràng, NH ở Trung Quốc được ưu ái và luôn thu được lợi nhuận rất lớn khi Spread lãi suất chênh lệch giữa Cho vay và huy động là lớn và ổn định! Một số chuyên gia nhận định, ngân hàng ở đây thu lợi lớn rất dễ dàng chỉ bằng việc chuyển lợi nhuận từ khách hàng (người gửi tiền) vào túi các cổ đông. Và do đó, các NH Trung Quốc luôn tìm cách phát triển tín dụng một cách nhanh nhất (tăng trưởng tín dụng bình quân hơn 25% trong một thời gian dài, đến năm 2009, tỷ lệ tín dụng/GDP ở mức 127%, cao nhất trong nhóm thị trường mới nổi)

Tôi thấy, ROE luôn ở mức cao (mặc dù ROA thấp do tỷ lệ leverage cao, chỉ việc huy động và cho vay), NIM luôn ổn định và giống nhau giữa các banks do spread lãi suất ở trên trên toàn hệ thống, mặt khác, NIM tương đồng và tương đối thấp thể hiện một điều, các NH ở đây chủ yếu cho các doanh nghiệp quốc doanh (SOEs) với lãi suất tối thiểu – floor (dễ dàng, thuận tiện, và đảm bảo khả năng sinh lợi), (sự khác nhau có thể chi do danh mục trái phiếu trong mỗi ngân hàng) chính sự dễ dàng này và luôn được đảm bảo tỷ lệ margin lãi suất ổn định, tỷ lệ hiệu quả hoạt động (ER – efficiency rate, đo bằng tỷ lệ chi phí ngoài lãi chia cho tổng thu nhập) luôn duy trì ở mức tương đồng ở các NH). (Xem thêm một so sánh khác ở đây trong năm 2009.)

Name* Loans Deposits Shareholders’ Equity Tier 1 ratio ROA ROE NIM Efficiency
ICBC 5,728.6 9,772.7 673.9 9.90% 1.19% 20.20% 2.26% 39.0%
CCB 4,819.8 8,001.3 555.5 9.30% 1.24% 20.90% 2.41% 39.0%
BoC 4,910.3 6,620.5 511.2 9.10% 1.03% 16.60% 2.63% 44.0%
BoComm 1,839.3 2,371.2 163.8 8.10% 1.01% 19.50% 2.30% 39.3%
CMB 1,185.8 1,612.6 92.8 6.60% 1.00% 21.20% 2.23% 50.9%
Minsheng 882.9 1,127.9 88 8.90% 0.98% 17.10% 2.59% 50.1%
Citic 1,065.6 1,341.9 104 9.20% 0.92% 12.80% 2.51% 46.7%

(All figures for 2009 in RMB Billion)

*Industrial & Commercial Bank of China, China Construction Bank, Bank of China. Other banks referenced are Bank of Communication (BoComm), China Merchants Bank (CMB), China CITIC Bank (Citic) and China Minsheng Bank (Minsheng). Source: Seeking Alpha.

Trong đầu tháng 8, đã có nhiều ý kiến chỉ trích chính sách lãi suất trần huy động của Trung Quốc, và có thông tin (rumor) cho rằng PboC nên tăng LS huy động (benchmark) hoặc cho phép floating lãi suất tiền gửi lên mức không vượt quá 10% so vớ lãi suất benchmark để tránh thiệt thòi cho người dân (nâng lãi suất thực, do lạm phát tăng cao), điều này sau đó cũng được “đảm bảo” bằng các phát biểu về việc sẽ đẩy nhanh tiến trình tự do hóa lãi suất. Tuy nhiên, cho đến hôm qua, trước khi tăng LS cơ bản, thì không có một quy định nào khác được ban hành.

Cũng vì các NHTM tập trung phát triển tín dụng mạnh mẽ, chủ yếu là vào các doanh nghiệp quốc doanh (SOEs) và một phần household và liên quan BĐS (nên nóng?) nên họ càng đẩy mạnh huy động, do đó, cũng như Việt Nam, họ tìm cách tăng cạnh tranh bằng các khoản chi thêm như Khuyến mãi, quà, …làm tăng giá vốn. Điều này lại phản ánh vào trong lãi suất cho vay, quý II vừa rồi, theo báo cáo của PboC, lãi suất cho vay đã tăng khoảng 0,33% (lên mức bình quân 5,67%/năm).

Có lẽ PboC đang cân nhắc chuyện này, vì nâng lãi suất tiền gửi sẽ có những tác động không hề nhỏ đến hệ thống tài chính nước này (tôi sẽ viết trong một entry khác, khi có thời gian).

Do đó, việc nâng lãi suất cơ bản hôm 19/10 bên cạnh một số lý do là kiềm chế lạm phát, kiểm soát việc overinvestment và tăng trưởng quá nóng thì vấn đề quan trọng nữa là nâng cao lãi suất thực của người gửi tiền.

(Cũng có lý do nữa là, tỷ lệ tiết kiệm – gửi NH ở Trung Quốc là rất lớn, như truyền thống, người dân Trung Quốc có tinh thần tiết kiệm theo đúng nghĩa của nó là rất cao, tỷ lệ tiết kiệm ở quốc gia này luôn duy trì ở mức cao, và truyền từ thời kỳ này sang thời kỳ khác, trước đây, họ cất tại nhà, sau này thì gửi NH cho an toàn và sinh lợi, nên dù lãi suất thấp (so với tăng trưởng GDP luôn duy trì ở mức 9 – 10%/năm!) họ vẫn gửi. Mặt khác, chính sách an sinh và hưu trí của Trung Quốc rất kém nên tỷ lệ tiết kiệm luôn ở mức cao. Cũng vì vậy, hiện tại, lãi suất NH thấp, nên họ có nhiều cơ hội cũng như phân vân để đầu tư vào các kênh khác, có lẽ TTCK, vàng, BĐS phát triển nóng cũng vì LS tiền gửi NH quá thấp!

Chỉ riêng việc này, sẽ có tác động mạnh đến các thị trường (tài sản) khác khi nhiều khả năng sẽ có sự dịch chuyển dòng tiền vào lại NH.

Việt Nam cũng vậy, nỗ lực tự do hóa lãi suất, lãi suất thể hiện cung cầu trên thị trường và rủi ro sử dụng vốn, cho đến thời kỳ khủng hoảng, giữa năm 2008, SBV mới ra QĐ 16 (tháng 5/2008) về cơ chế điều hành lãi suất, quy định trần lãi suất cho vay không vượt quá 150% lãi suất cơ bản), cho đến đầu năm 2010, cơ chế lãi suất thỏa thuận đã trở lại (Xem thêm ở đây). Do đó, trần và sàn lãi suất không có gì là mới mẽ và bất ngờ, tuy nhiên tôi đánh giá rất cao cơ chế trần lãi suất mà SBV ban hành trong thời gian khủng hoảng! Hiện tại, do một số bất cập, nên thông qua VNBA, để kêu gọi một “trần” lãi suất huy động có lẽ là hợp lý!

Xem thêm một số “đặc điểm” về hoạt động của NHTM ở VN tôi có đề cập trong entry trước.

Vấn đề Trần lãi suất huy động, trước đây, vào đầu những năm 1980 cũng được Fed áp dụng (đạo luật Q).