Tags

,

Trên Vneconomy có đăng: Thời điểm có hiệu lực của Thông tư 19 đã hợp lý?

Về thời điểm hiệu lực, tối thiểu 45 ngày kể từ ngàyban hành văn bản và Thủ tục đăng Công báo trong 3 số liên tiếp?

[Hahaha, tại lúc trước ông Giàu hay nói rằng TT13 có thời gian hiệu lực (thực hiện) là quá dài (tới gần 5 tháng), giờ thì bài báo này coi như đã “phản ánh” lại, điều này có thể gọi là … “cây gậy và củ cà rốt”?]

Tuy nhiên, có một vấn đề không dừng lại ở đây, điều tôi muốn nói là hiệu quả của TT19 (và TT13) về 3 nội dung quan trọng là thực sự cao về: tỷ lệ khả năng chi trả, tỷ lệ an toàn vốn và tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động (những nội dung còn lại là hệ số rủi ro trong viêc cho vay chứng khoán và BĐS tôi chưa xét đến)

Thứ nhất, tỷ lệ an toàn vốn CAR có thể chỉ gây khó khăn cho các NHTM Nhà nước khi nâng từ 8% lên 9%, đối với các NHTM cổ phần, tôi thấy không vấn đề gì, những NHTM nhỏ chưa đủ vốn pháp định theo nghị định 141 (vốn tối thiểu 3.000) thì tất nhiên họ phải tăng và khi tăng lên thì tỷ lệ CAR theo quy định rất dễ dàng đạt được. Đối với NHTM lớn hơn, họ đã đạt được từ lâu, và báo đài còn cho rằng chuẩn của VN hiện tại còn cao hơn cả thế giới!

Thứ hai, tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn huy động không quá 80% (đối với NHTM) sẽ ít hoặc không còn ý nghĩa khi cái “quy định” ngầm (vì không có văn bản) huy động từ thị trường 2 (liên ngân hàng) không vượt quá 20% huy động từ TCKT & Dân cư không còn nữa. Vì NHTM nào không đạt tỷ lệ từ 80% trở xuống thì họ vay mượn trên liên ngân hàng (nhận tiền gửi trên TT liên ngân hàng sau đó gởi lại cùng kỳ hạn hoặc giữ luôn), điều này làm tăng tổng vốn huy động của họ vì TT19 có tính luôn khoản này vào vốn huy động. Mặt khác, họ có thể phát hành CCTG ngắn hạn nhưng không phải ra dân cư mà “nhờ” TCTD khác mua trọn gói. Đó là chưa tính họ có thể vay TCTD khác với kỳ hạn từ 3 tháng trở lên.

Thứ ba, về tỷ lệ khả năng chi trả ngày hôm sau và 7 ngày tiếp theo. Theo đó, tỷ lệ chi trả ngày hôm sau là phải từ 15% trở lên và 7 ngày là từ 100% trở lên. Nếu NHTM không đạt, họ có thể nhận thêm tiền gửi trên TT liên ngân hàng kỳ hạn overnight (nếu không đảm bảo tỷ lệ 15% như trên) hoặc 7 ngày (nếu không đạt tỷ lệ quy định cho kỳ hạn này), sau đó gửi lại trên thị trường liên ngân hàng với kỳ hạn và khối lượng tương ứng (lãi suất vay có thể bằng hoặc cao hơn để kiếm lợi). Càng nhận thêm nhiều thì tỷ lệ thanh toán càng tăng lên, vì đơn giản, khả năng thanh toán ngày hôm sau có tử số luôn nhỏ hơn nhiều lần so với mẫu số cho nên khi tăng cùng một khoản (giá trị tuyệt đối) thì tỷ lệ tăng của tỷ số cao hơn so với tỷ lệ tăng của mẫu số, do đó, tỷ lệ mới về thanh toán sẽ tăng lên nhanh hơn. Đối với 7 ngày cũng vậy, khi chưa đạt 100% thì tử số nhỏ hơn mẫu số và tương tự như trường hợp trên để đối phó cho ngày cần báo cáo! (Cùng với những biện pháp khác như chuyển từ không kỳ hạn sang có kỳ hạn…linh hoạt,…)

Tôi lấy ví dụ như bên dưới:

Tỷ lệ khả năng chi trả ngày hôm sau (1 ngày) = Tài sản có ngày hôm sau/Tổng nợ phải trả (đối với loại 7 ngày thì tương tự)

Giả sử quy mô các khoản phải thu và phải trả của ngân hàng (đơn vị: tỷ đồng) như sau:

Nhận tiền gửi liên ngân hàng tăng

Huy động tiền gửi trên liên ngân hàng hoàn toàn có thể đối phó với quy định của SBV. Và đó là lý do giao dịch trên thị trường liên ngân hàng hai tuần gần đây tăng mạnh?

Có chăng chỉ làm tăng TTS rủi ro, làm giảm hệ số An toàn vốn CAR, nhưng khi CAR (thời gian báo cáo lâu) đã đạt thì mức thay đổi, nhạy cảm của loại này nhỏ vì TTS rủi ro luôn rất lớn, nên nếu tăng thêm một khoản nhỏ là không tác động mạnh.