Tags

Năm nay ai sẽ đạt giải Nobel kinh tế danh giá? Nhiều trang web tham khảo ý kiến. Trên Blog của GS G. Makiw có đưa link một số trang.

Qua các trang cho thấy có thể năm nay Kinh tế học lên ngôi (theo sau sau là finance).

Trong danh sách dẫn đầu bao gồm: Dale Mortensen, tiếp là Jean Tirole. Một trang khác thì Earnst Fher và Richar Thaler, Jagdish Bhagwati, Robert Barro,…

Lĩnh vực nào sẽ lên ngôi sau khủng hoảng?

Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu, giải thưởng đã thuộc về những nhà kinh tế Mỹ.

Năm 2009, Nobel kinh tế thuộc về 2 GS giáo sư Mỹ, Ostrom (đại học Indiana) “Analysis of economic governance, especially the commons” và Williamson (đại học Berkley) “analysis of economic governance, especially the boundaries of the firm”, với lĩnh vực nghiên cứ “tổ chức và hợp tác trong hệ thống quản lý điều hành kinh tế”, rất quan trọng trong việc tìm hiểu về khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Nobel Kinh tế năm 2008 thuộc về Giáo sư Paul Krugman (đại học Đại học Princeton, Mỹ với thành tích “hợp nhất các lĩnh vực nghiên cứu rời rạc trước đó về thương mại quốc tế và địa kinh tế” và đã gắn kết những phân tích mô hình thương mại với những thực tế hoạt động kinh tế “Analysis of trade patterns and location of economic activity”.

Một số trang có pool predict: Đại học Chicago, Havard, Reuters, Kellog SoM, IPredict

Updated: 8h45′

Noted xong cái entry này không bao lâu thì có thông tin Nobel năm nay trao cho 3 nhà kinh tế (2 người Mỹ) về “analysis of markets with search frictions”, xem ở đây
Peter A. Diamond (Viện công nghệ Massachusetts), Dale T. Mortensen (Đại học Northwestern, Illinois, Mỹ) và  Christopher A. Pissarides (người Cyprys đang làm việc tại trường Kinh tế và Khoa học chính trị London)

Updated 18h52 12/10

Trên VNEconomy có đăng:

Theo Hội đồng trao giải, với mô hình “search friction”, các nhà kinh tế trên đã giúp nhân loại hiểu rõ về những cách, mà trong đó việc làm, lương bổng bị tác động bởi các chính sách kinh tế. Hay nói một cách khác, từ mô hình này, người ta có thể hiểu được các chính sách kinh tế ảnh hưởng như thế nào tới tình trạng mất việc làm

Updated 18h52 12/10:

Tiếp một số thông tin về giải Nobel năm nay. Nobel năm nay thuộc về Kinh tế học lao động (Labour Economics). Có thể thời hậu khủng hoảng, vấn đề hồi phục kinh tế và gia tăng việc làm (giảm tỷ lệ thất nghiệp) đang được quan tâm hàng đầu và thực tế các quốc gia phát triển đang đau đầu về vấn đề này (như Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp lên đến gần 10% và luôn là chỉ số khiến thị trường “dậy sóng”). Ba nhà kinh tế năm nay nghiên cứu về vấn đề “Thị trường tím kiếm chuyển đổi” đặc biệt trong thị trường lao động và nhà đất. Vấn đề nằm ở chỗ cung và cầu không thể “khớp lệnh” ngay lập tức mặc dù cung rất lớn và cầu cũng rất lớn! Ba vị này chỉ ra được tác động của các chính sách (kinh tế) đến thị trường lao động (labor market) như thế nào, bao gồm tuyển dụng, thất nghiệp, lương bổng. Trong thị trường nhà đất cũng vậy, có sự tương tự. Cần nhiều thời gian và nỗ lực mới đi đến sự thoả mãn cung và cầu.

Theo thông tin thông báo thì Ông Diamond phân tích nền tảng của các thị trường tìm kiếm, ông Mortensen và Pissarides đã mở rộng lý thuyết này và áp dụng nó vào thị trường lao động.

Về thị trường lao động, nghiên cứu về lý thuyết tìm kiếm liên quan đến tỷ lệ thất nghiệp, khi cung và cầu không gặp nhau ngay được mà cần có thời gian và nỗ lực, do đó, thất nghiệp, dù với nguyên nhân gì (như tự động nghỉ việc để tìm việc khác, đuổi việc,…) thời gian để có thể tìm được việc luôn rất dài dù thị trường tuyển dụng đang rất cao (Vacancy ratio), khi thất nghiệp trong một thời gian đủ dài sẽ “được tính” vào tỷ lệ thất nghiệp (Unemployment rate), đó là các dạng thất nghiệp Frictional unemplyment và Structural unemployment (thất nghiệp tự nhiên).

Tỷ lệ thất nghiệp sẽ không bằng không (0) khi tất cả các lao động đều có việc! Quá trình thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp được duy trì và thay đổi do tổng hợp của hai xu hướng: khả năng tạo việc làm và mất việc (biến động ngược chiều nhau), đồng thời, xu hướng của cường độ phân bổ lao động lại khiến chúng dịch chuyển theo hướng song song.

Trong “tình trạng” hậu khủng hoảng, có thể thêm một loại thất nghiệp nữa là thất nghiệp theo chu kỳ (Cyclical Unemployment).

Một đường cong “gần gủi” với công trình nghiên cứu trên và thể hiện mối tương quan giữa tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ tuyển dụng việc làm là đường Beverige Curve:

Nguồn: Paul Krugman Op-ed