Tags

,

Mấy hôm nay lại rộ lên việc thực hiện Thông tư 13. Mọi việc đến sớm hơn tôi nghĩ (ở đây). Các báo đài đang đưa tin về những khó khăn trong thực hiện thông tư 13. Tóm lại, một số khó khăn trong việc thực hiện thông tư 13 đó là:

1. Chi phí tăng lên quá lớn khi tỷ lệ sử dụng vốn thấp, tỷ lệ tài sản thanh khoản cao!

2. Tỷ lệ an toàn tăng lên (8% lên 9%) đồng nghĩa với mức vốn tự tương đối sẽ tăng cao. Bởi, về số lượng, từ 8% lên 9% thì không cao, nhưng chất lượng thì rất khắt khe. Vốn tự có “bị trừ” nhiều khoản (xem TT13), trong khi Tài sản Có rủi ro lại tăng lên do nhóm hệ số rủi ro chưa tương ứng với từng loại tài sản cụ thể (như chứng khoán chung cho các loại), cho vay theo mục đích sử dụng vốn,…(Việc tăng Vốn Tự có đã khó, giảm TS Có rủi ro càng khó hơn!)

Điều này gây áp lực lên lợi nhuận hoạt động, càng khó khăn hơn khi thu nhập từ lãi giảm xuống do tài sản sinh lợi giảm.

3. Những vấn đề khó khăn trong việc quản lý nợ và trích lập dự phòng.

Về vĩ mô: Tình hình này sẽ dẫn đến chạy đua huy động vốn để đáp ứng các yêu cầu trên, dẫn đến lãi suất có khả năng tăng (đầu vào). Lãi suất đầu ra khó có khả năng giảm xuống thấp do NH phải tăng LS cho vay để bù vào chi phí tăng cao do thanh khoản lớn (đảm bảo chênh lệch lãi suất đầu ra – đầu vào). Mặt khác, cung tiền có khả năng giảm xuống khi tỷ lệ reserves của các NHTM tăng lên. Điều này ảnh hưởng đến lượng vốn đáp ứng cho nền kinh tế cùng với chi phí vốn tăng cao.

Phát sinh khác có thể như: phát sinh các loại fee khi giao dịch với NH (để bù đắp chi phí!)

Trên VNBA có tài liệu kiến nghị đến SBV: xem ở đây

Trên Tuổi trẻ có bài về việc không đưa vốn không kỳ hạn vào việc tính toán tổng vốn để sử dụng cho vay do loại vốn này có giá rẽ! Tôi thì không đồng tình với việc giá rẽ hay không của vốn không kỳ hạn trong vấn đề này của ông Trần Hoàng Ngân. Mà vấn đề quan tâm là tỷ lệ được sử dụng vốn để cho vay (hoặc tỷ lệ tài sản thanh khoản so với huy động). Vì cùng một lượng tiền thì “rút” tiền nào cho vay cũng được, đâu phải không được rút tiền huy động không kỳ hạn cho vay! Cái NH “tính toán” ở đây là giá vốn bình quân và tỷ lệ cho vay so với huy động như bà Dương Thu Hương nói!

Tôi cũng không rõ SBV đưa phần loại vốn Không kỳ hạn vào làm gì! Đơn giản, tổng vốn “trong túi” đều là vốn… có thể cho vay, nên, sự khác biệt là ở: Mismatch, tức là sự mất cân đối về kỳ hạn trong cho vay và huy động! Cho nên, ngoài tỷ lệ khả năng thanh toán 1 tuần, 30 ngày, hay tỷ lệ ngắn hạn cho vay trung dài hạn (TT15), SBV nên quy định thêm chi tiết về việc quản lý chênh lệch kỳ hạn (bảng GAP) theo từng phân khúc kỳ hạn và tỷ lệ chênh lệch âm tối đa,…

Có người nói rằng, hiện nay hệ thống ngân hàng bị bóp nghẹt quá làm sao phát triển kinh tế nỗi! Nghĩ cũng phải, lúc trước đã không cân đối, giờ bắt phải cân đối bằng các quy định, quyết định “bóp nghẹt” trong tình hình kinh tế đang hồi phục như hiện nay thì quả thực đáng lo ngại.

Điểm lại một số “tỷ lệ an toàn” trong hoạt động ngân hàng:

  1. Tỷ lệ an toàn vốn (CAR): từ 8% (QĐ 457) lên 9% (TT 13). Ở đây tôi chỉ nêu một số chỉ tiêu trong QĐ 457 và QĐ 03/2007/QĐ-NHNN v/v sửa đổi, bổ sung một số điều trong QĐ 457 (vì TT 13 chưa thực hiện, có thể xem thêm trong TT13)

Vốn tự có cấp 1 (TIER1): tối thiểu 4%. Vốn tự có cấp 2 (TIER 2) cộng vào: tối đa 100% vốn tự có cấp 1, các Trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi, công cụ nợ khác: tối đa 50% vốn cấp 1. (Giá trị vốn tự có khi tính an toàn vốn phải loại trừ: giảm đi do đánh lại TSCĐ, chứng khoán đầu tư, vốn góp đầu tư, phần vượt 15% vốn tự có khoản góp vốn vào các Doanh nghiệp, phần vượt 40% tổng góp vốn các doanh nghiệp ngoài phần vượt 15%, góp vốn doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, chứng khoán mà TCTD nắm quyền kiểm soát.)

Tỷ lệ khả năng thanh khoản: TS Có/TS Nợ trong thời gian 7 ngày tiếp theo là 100%, TS Có ngày hôm sau / TS Nợ 1 tháng tiếp theo tối thiểu 25% (TT 13: Tổng TS Có Thanh toán ngay / TS Nợ tối thiểu 15%; TS Có/TS Nợ trong thời gian 7 ngày tiếp theo là 100%)

Tỷ lệ góp vốn, mua cổ phiếu: không vượt quá 11% vốn điều lệ, không vượt quá 15% vốn điều lệ và qũy dự trữ, tổng góp vốn không quá 40% vốn điều lệ và các qũy dự trữ.

  1. Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn: 40% (QĐ 457) nay là 30% (TT15)
  2. Vốn huy động thị trường 2 (liên ngân hàng) không vượt quá 20% tổng huy động vốn từ TCKT và dân cư.
  3. Dư nợ cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán không vượt quá 20% Vốn điều lệ của TCTD (QĐ 03/2008/QĐ-NHNN)
  4. Trích lập dự phòng Dự phòng chung: 0.75% Dư nợ nhóm 1 đến 4 (QĐ 493)
  5. Tỷ lệ nợ xấu/ tổng dư nợ: 3%, tỷ lệ nợ quá hạn / tổng dư nợ: 5%
  6. Tổng các trạng thái các ngoại tệ âm hoặc dương / vốn tự có: không quá 30%. Riêng trạng thái vàng là +/-20% (QĐ 03/2006 của NHNN) (SBV vừa ban hạn TT 17/2010/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung)
  7. Tỷ lệ chuyển vốn bằng VÀNG thành tiền / huy động vàng: không quá 30% (QĐ 432/2000 của NHNN)
  8. Tỷ lệ mua sắm, đầu tư TSCĐ: tối đa 50% vốn tự có cấp 1.
  9. Trích qũy dự phòng Tài chính: 10% lợi nhuận, tối đa 25% vốn điều lệ.
  10. Khác: cách đây mấy tháng, lãi suất huy động và cho vay đều nằm trong…trần lãi suất quy định!
  11. Vốn điều lệ: Nghị định số 141/2006/NĐ-CP về danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng (3.000 tỷ đồng tối thiểu) và Nghị định 69/2007/NĐ-CP ngày 20.4.2007 của Chính phủ về việc qui định tỷ lệ nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của NHTMVN

Quan trọng: Thông tư 04/2010/TT-NHNN v/v Quy định việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD! Đây có thể là…kết thúc của vấn đề (Hình như SBV cũng muốn vậy?)

Update thêm 29/10/2010:

12. Thông tư 19 quy định một số vấn đề về đảm bảo an toàn trong hoạt động (sửa đổi TT13, xem ở đây)

13. Thông tư 22 v/v hoạt động huy động và cho vay vàng thay thế QĐ 432/2000 (xem ở đây)

Advertisements