Tags

,

Một số nét chính trong báo cáo của ADB[1] về Các nền kinh tế mới nổi Đông Á

Kiến nghị tập trung vào Chính sách Rút dần các chương trình kích thích kinh tế (Unwinding Policy Stimulus / Exit Strategies)

Kinh tế 6 tháng đầu năm

  1. Sự hồi phục tương đối mạnh trong nữa đầu năm 2010 của các nền kinh tế mới nổi ở Đông Á[2] nhờ vào sức cầu nội địa và sự phục hồi của sức cầu ngoại. Năng lực sản xuất và niềm tin tiêu dùng tiếp tục được cũng cố.
  2. Cùng với đà hồi phục mạnh, áp lực lạm phát đã gia tăng, tuy nhiên, vẫn trong tầm kiểm soát.
  3. Cán cân thanh toán nhìn chung toàn khu vực là tương đối vững, được hỗ trợ bởi cán cân vãng lai tiếp tục thặng dư và cán cân vốn cải thiện bởi dòng tiền tiếp tục đổ vào khu vực.
  4. Về thị trường chứng khoán, sau đà hồi phục mạnh vào quý I năm nay, thì sang quý II đã có sự điều chỉnh mạnh do tác động từ khủng hoảng nợ của khu vực Châu Âu.
  5. Hầu hết các đồng tiền trong khu vực tăng giá so với USD mặc dù có một số điều chỉnh do ảnh hưởng từ khủng hoảng nợ của khu vực Châu Âu.
  6. Lợi suất trái phiếu hầu như sụt giảm trên toàn khu vực do tác động của dòng tiền đổ vào trong nữa năm 2010.
  7. Trên đà hồi phục tương đối tốt của khu vực, một số nước đã bắt đầu ngừng các chương trình kích thích kinh tế: Malaysia, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan đã tăng lãi suất điều hành. Trong khi một số quốc gia khác đang thắt chặt tiền tệ bằng nhiều chính sách khác nhau.
  8. Với sự tác động không lớn của khủng hoảng nợ Châu Âu, thị trường tài chính các quốc gia mới nổi trong khu vực Đông Á vẫn ổn định khi các ngân hàng trong khu vực có năng lực tài chính tốt và lợi nhuận cao.

Triển vọng và Rủi ro

  1. Nhìn chung, tác động của các yếu tố bên ngoài đối với khu vực vẫn tốt, mặc dù đà hồi phục có thể bị gián đoạn bởi khủng hoảng nợ hiện hành.
  2. Các nước trong khu vực hình thành đà hồi phục chắc chắn theo hình chữ V, dự báo GDP tăng trưởng khoảng 8,10% trong năm nay và giảm xuống còn 7,20% cho năm 2011.
  3. Về rủi ro, kinh tế khu vực có thể chịu tác động bởi 3 yếu tố chính: Mặc dù đà khôi phục khá mạnh nhưng vẫn chịu rủi ro gián đoạn. Khả năng mất ổn định của dòng vốn chảy vào và năng lực điều hành đồng bộ các giải pháp chính sách sau khi dần rút dần các biện pháp kích thích kinh tế.

Khuyến nghị chính sách

  1. Thận trọng với các giải pháp rút dần các chính sách kính thích kinh tế vốn chưa có tiền lệ này là điều kiện tiên quyết cho đà hồi phục bền vững của nền kinh tế.
  2. Ngoại trừ một số trường hợp, nhìn chung, đây là thời điểm thích hợp bắt đầu rút dần các chính sách kích thích.
  3. Chính sách tiền tệ vẫn là chủ đạo trong gói các chính sách có thể. Trong đó, sử dụng chính sách tỷ giá kết hợp với lãi suất có vẽ là hợp lý nhất đối với tái cân bằng nguồn lực cho sự phát triển.
  4. Mức độ cắt giảm hay ngừng hẵn các chính sách kích thích tùy thuộc vào đà hồi phục mạnh hay yếu của nền kinh tế cùng với khả năng xuất hiện các loại rủi ro.
  5. Việc quản lý được dòng vốn ổn định cần phải có các biện pháp đo lường tốt, có thể bao gồm: Hệ thống Quản trị lành mạnh, chính sách tỷ giá linh hoạt, mức độ nhạy cảm của hệ thống tài chính, trong một số trường hợp cấp bách có thể tính đến việc thiết lập hệ thống kiểm soát theo mục tiêu nhằm hạn chế sự tư do hóa dòng vốn.

Những lựa chọn chính sách (Exit Strategies)

  1. Các quốc gia có đà hồi phục kinh tế tốt nên ngưng ngay các chính sách tài khóa và tiền tệ được dùng như chính sách kích thích kinh tế trước đây, cố gắng đưa các chính sách vĩ mô về trạng thái bình thường như trước khi khủng hoảng xảy ra.
  2. Quy mô kích thích tương đối nhỏ so với các nền kinh tế phát triển mạnh, do đó, mức độ thắt chặt chính sách hiện nay cũng nên vừa phải (nhỏ hơn).
  3. Các thách thức lớn nhất đó là ngưng kích thích mà không làm gián đoạn đà hồi phục, khi nào thì có thể, gói các chính sách và mức độ thắt chặt.
  4. Thời gian thì tùy thuộc vào mức độ và tính bền vững của đà hồi phục, cũng như đánh giá các rủi ro có thể, điều này là đặc thù đối với mỗi quốc gia. Càng cấp thiết khi kinh tế có đà hồi phục mạnh, áp lực lạm phát gia tăng và khoảng cách tăng trưởng (outpput gap[3]) hẹp lại (so với mục tiêu/kế hoạch).
  5. Đối với các nước phát triển, chiến lược “rút lui” nên xuất phát từ chính sách tài khóa thì ngược lại, các nước mới nổi trong khu vực tốt hơn hết là sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ (thắt chặt tiền tệ).
  6. Về mức độ thắt chặt tiền tệ, nên thực hiện linh hoạt và nhịp nhàng với khả năng hồi phục phòng trường hợp xuất hiện rủi ro từ khủng hoảng toàn cầu.
  7. Cần có sự phối hợp và hợp tác đồng bộ giữa các nền kinh tế mới nổi trong khu vực nhằm tạo đà cho phục hồi kinh tế bền vững và cân bằng, đặc biệt là trong chính sách tỷ giá.

Nguồn:Asia Economic Monitor – ADB, Jul 2010 ,Nếu không có thể Download ở đây.


[1] Asia Economic Monitors (AEM) của ADB (Tháng 7/2010)

[2] Các nền kinh tế mới nổi khu vực Đông Á bao gồm 14 nước, trong đó, 10 nước Asean cùng với Trung Quốc, Hông Kông, Đài Loan và Hàn Quốc

[3] Output Gap được hiểu là chênh lệch giữa GDP thực tế (actual) và GDP tiềm năng (Potential). Nếu khoảng cách này hẹp lại (narrow) có nghĩa là các nguồn lực kinh tế đang được sử dụng và hoạt động đạt hiệu quả cao theo đúng khả năng của nó (full-capacity). Một khi có chênh lệch âm (Negative) hoặc dương (Positive), có nghĩa là các nguồn lực (lao động, vốn) chưa được sử dụng đúng (lãng phí) – underworking hoặc đang được khai thác vượt khả năng (overworking). Do đó, nếu Gap negavite gia tăng, đồng nghĩa với inflation gia tăng vì chi phí lao động, vốn, gia tăng, năng suất kém và giá sản phẩm cũng tăng lên.

Advertisements