Tags

, ,

Thị trường tháng 6

Tình hình thế giới, có vẽ tháng 6 vừa qua điểm quan trọng nhất đó là tình hình Trung Quốc quyết định điều hành linh hoạt động RMB và tăng giá lần đầu tiên kể từ cuộc khủng hoảng tài chính 2007. Tiếp theo là giữ nguyên lãi suất điều hành của một số nước và vùng lãnh thổ. Trong đó, Fed tiếp tục duy trì chính sách lãi suất thấp 0 – 0,25% hôm 24 vừa qua, bên cạnh, ECB, BOJ, RBA, BOA tiếp tục giữ nguyên lãi suất. Canada đã tăng lãi suất lên 0,25%.Trong tháng 6 cũng là tháng thị trường chờ đợi nhiều nhất cách cách thức chống chọi với khủng hoảng nợ Châu âu, đó là chính sách thắt lưng buộc bụng cắt giảm chi tiêu và gói cứu trợ 1000 tỷ USD.

(Trong 6 tháng đầu năm 2010, NHTW của hầu hết các nước tiếp tục duy trì lãi suất chủ chốt như cuối năm 2009 (0,25% tại Mỹ và Thuỵ Sỹ, 1% tại Châu Âu và Pháp, 0,5% tại Anh, 0,1% tại Nhật Bản, 2% tại Hàn Quốc, 5,31% tại Trung Quốc, 1,25% tại Thái Lan, 0,03% tại Singapore, 6,5% tại Indonesia,…), ngoại trừ NHTW Australia 3 lần tăng lãi suất từ 3,75% lên 4,5%, NHTW Canada tăng từ 0,25% lên 0,5%, NHTW Na Uy tăng từ 1,61% lên 1,75%.)

Thị trường chứng khoán thế giới vẫn chưa thực sự khởi sắc khi áp lực từ khủng hoảng nợ vẫn chưa cho thấy sự chấm dứt Theo dự báo của IMF và ADB, các kế hoạch kích thích tài chính tại nhiều quốc gia đã làm cho tình trạng nợ công ngày càng tăng cao trong năm 2009 và tiếp tục tăng cao hơn trong năm 2010. Các nước phát triển nói chung và nhóm G7 nói riêng có tỷ lệ nợ công/GDP cao nhất với tỷ lệ dự báo trong năm 2010 lần lượt là 97,1% và 112,5% (tăng so với tỷ lệ 90% và 104,9% của năm 2009); riêng Mỹ, nợ công trong 5 tháng đầu năm 2010 đã tăng lên mức 90% GDP (tương đương 13.000 tỷ USD) và dự báo có thể tăng lên mức 92,6% vào cuối năm 2010. Các quốc gia mới nổi ít chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu nên nợ công vẫn duy trì ở mức vừa phải (khoảng 37% GDP trong năm 2009 và 2010). Tại khu vực đồng tiền chung Châu Âu, nợ công của một số nước như Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha trở nên trầm trọng ngay đầu năm 2010 và gây bất ổn trực tiếp cho toàn bộ khu vực đồng Euro; dự báo, nợ công năm 2010 của Hy Lạp lên tới 124,9% (trong đó nợ nước ngoài có thể lên tới 80%) trong khi thâm hụt ngân sách tiếp tục duy trì ở mức cao (-12,2%) dẫn đến nguy cơ vỡ nợ cao, tạo phản ứng lan truyền sang Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và ảnh hưởng tới hoạt động kinh tế của cả khu vực. Mới đây, các tổ chức định mức tín nhiệm như S&P, Moody’s và Fitch Rating đã hạ mức độ tín nhiệm đối với trái phiếu chỉnh phủ Hy Lạp, Bồ Đào Nha xuống mức thấp.

Lạm phát toàn cầu trong nửa đầu năm 2010 tăng so với năm 2009 những vẫn duy trì ở mức thấp và trong tầm kiểm soát. Cùng với việc tăng trưởng kinh tế mạnh hơn thì lạm phát tại các nước đang phát triển và mới nổi cũng tăng nhanh hơn so với các nước phát triển do ảnh hưởng của các biện pháp mở rộng cung tiền mạnh mẽ tại các nước này trong năm 2009 (tỷ lệ lạm phát tháng 4/2010 tại Trung Quốc là 2,8% so với cùng kỳ năm 2009, trong đó tại Mỹ là 2,2% và Khu vực Châu Âu là 1,5%). Riêng Nhật Bản vẫn tiếp tục rơi vào tình trạng giảm phát (-1,2%).

Chỉ số BDI có lần sụt giảm xuống mức thấp nhất trong vòng gần 1 năm qua và thông thường, BDI sụt giảm thường đi cùng với chứng khoán.

Tình hình trong nước

Về tình hình vĩ mô trong nước, tăng trưởng kinh tế được đánh giá là khả quan, ước tính có thể tăng 6,3% trong quý II, chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 tương đối thấp (tăng 4,78% so với đầu năm) thúc đẩy tiếp tục thực hiện nới lỏng cung tiền, lãi suất theo quyết tâm của NHNN và HHNH xác định sẽ đẩy xuống thấp trong tháng 7.

Tăng trưởng tín dụng tháng 6 cao nhất trong các tháng đầu năm và 6 tháng có khả năng đạt 10,52% cho thấy nguồn vốn đã được đẩy mạnh sử dụng, doanh nghiệp sẽ bắt đầu thực hiện các kế hoạch kinh doanh, đặt biệt là trong quý II.

Trong tháng 6 cũng đã đánh dấu quyết định ra đời 2 luật quan trọng đó là Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các TCTD, đây có thể là thông tin tích cực hơn.

Xem thêm tháng 6

Thị trường chứng khoán

Chứng khoán trong nước tháng qua tiếp tục xu hướng đi ngang và ảm đạm, so với cuối tháng 5, VNIndex giảm nhẹ 0,06%.

Khối lượng giao dịch bình quân ở mức 49,3 triệu đơn vị so với 62,7 triệu đơn vị/ngày của tháng trước (giảm 21,35%).

Độ sâu thị trường trong tháng chỉ ở mức 3,59% (H – L)/L), tương đương 17,9 điểm dao động, trong tháng trước, mức này là 14,45% (tương đường 69,6 điểm) càng chứng tỏ dòng tiền đổ vào thị trường đang rất yếu.

Giao dịch của nhà đầu tư NN không sôi động như trong tháng 5, có khả năng họ đang cơ cấu lại danh mục với một số CP bluechips và thanh khoản tốt.

Tình hình ảm đạm có thể do ảnh hưởng của chứng khoán toàn cầu trước cuộc khủng hoảng nợ và thị trường cũng chờ đợi khai thác thông tin từ kết quả kinh doanh quý II. Một số nhóm cổ phiếu dẫn đầu như ngân hàng đã trở thành “gánh nặng” càng làm cho thị trường không có khả năng bứt phá.

Tháng 7 sẽ thế nào?

Thanh khoản chưa được cải thiện, dòng tiền đổ vào thị trường là tương đối yếu, nhìn chung là ảm đạm có thể tiếp diễn trong tháng 7 này một khi các thông tin về hoạt động quý II chưa lộ diện.

Thị trường kỳ vọng vào sự giữ lữa của tình hình lãi suất có xu hướng giảm cùng mức tăng cung tín dụng mạnh hơn. Bên cạnh đó, yếu tố đầu cơ theo thông tin của một số cổ phiếu ngành tài chính, bất động sản, xây dựng và thực phẩm có thể làm thị trường sôi động hơn. Nhưng nhìn chung, toàn thị trường vẫn giữ xu thế đi ngang.

Theo một số chỉ số kỹ thuật, Vnindex đang chịu sự kháng cự mạnh của đường SMA 20 và tiếp là đường SMA50. Nhiều khả năng sẽ không lên nỗi mức 505 và 510 và sẽ dao động quanh mốc 500 với biên độ hẹp.

Chiến lược trong tháng 7 là chờ đợi, sàng lọc thông tin kết quả kinh doanh quý II để có quyết định, chú ý đến tiềm năng tăng trưởng lợi nhuận từ giá vốn hàng bán, từ hàng tồn kho có mức chênh lệch giá tốt có thể đem đến khoản lợi nhuận đột biến. Đánh giá khả năng thực hiện quý II so với kế hoạch và chiến lược kinh doanh cho những tháng cuối năm.

Tiếp tục chiến lượng lướt sóng với tỷ trọng thấp đối với các mã cổ phiểu có khả năng làm giá hoặc được một số CTCK và các Quỹ đang đánh lên (có thể các Quỹ tiếp tục giữ lữa một số cổ phiếu sau khi đã thực hiện window dressing trong quý II để take profit). Khả năng tăng giá cao đối với một số mã nhờ bán được sản phẩm với giá vốn thấp và đang có hàng tồn kho giá thấp so với thị trường.

Advertisements