Tags

,

Tăng trưởng khả quan và ổn định trở lại

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong năm 2010 được đặt ra la 6,5%, lạm phát kiềm chế ở mức dưới 8%. Ngân hàng Nhà nước đang làm mọi cách để thực hiện được điều này cùng với các cơ quan ban ngành. Từ việc bình ổn giá cả thị trường cho đến điều hành chính sách tiền tệ nhằm giảm mặt bằng lãi suất theo chỉ đạo của Chính phủ xuống 10% và 12% (huy động và cho vay). Tỷ giá được duy trì ổn định ở mức 18.544 VND/USD, trên thị trường tự do, giá USD đang có lúc xuống dưới 19.000. Một số tin đồn cũng đã được ổn định trở lại bằng các tín hiệu từ Ngân hàng Nhà nước.

Nguồn: An update on Vietnam’s Recent Economic Developments – WorldBank

Tăng trưởng kinh tế Quí 2 có khả năng đạt từ 6,3%. Dòng vốn tăng trưởng tạo tiền đề củng cố cho đầu tư phát triển đạt các chỉ tiêu của Chính phủ và Quốc hội đề ra khi 5 tháng đầu năm , vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước ước đạt 36,5% kế hoạch cả năm; đối với dòng vốn nước ngoài, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 4,5 tỷ USD, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2009; giải ngân vốn ODA cao hơn 17% so với cùng kỳ năm 2009.

Nguồn: GSO (số Quý II là ước*)

Tăng trưởng tín dụng dự báo ở mức 10,52%, riêng trong tháng 6 có khả năng tăng mạnh ở mức 3,06%. Tăng trưởng huy động 6 tháng đầu năm ở mức 10,82% cao hơn tăng trưởng tín dụng.

Thâm hụt thương mại ở mức 6,09 tỷ USD trong sáu tháng đầu năm, bằng 20,9% kim ngạch xuất khẩu. Tính chung đến giữa tháng 6, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 64,27 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm 2009.

Chỉ số giá tiêu dung duy trì ở mức thấp, dự báo trong tháng 6 có khả năng tăng 0,25% so với tháng 5 và 6 tháng đầu năm tăng ở mức 4,81 – 5% so với tháng 12/2009.

Nguồn: GSO, số tháng 6 là ước tính (Hà Nội tăng 0,21%, HCM tăng 0,35%**)

Mặt bằng lãi suất đang trong xu hướng giảm dần, tốc độ huy động tăng cao hơn cho vay điểm cân bằng trên thị trường tiền tệ đang hình thành trở lại sau một thời gian bị méo mó bởi chỉ thị hành chính (trần lãi suất), mặt bằng huy động đang dần giảm xuống mức từ 11 – 11,5%/năm, cho vay ở mức 13 – 14%/năm và đang có xu hướng giảm, đồng thời trả lãi suất về trạng thái cân bằng bằng quyết định cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với cả ngắn hạn và trung dài hạn (Thông tư số 07 và thông tư 12/2010/TT-NHNN). Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng giảm mạnh so với đầu năm, điều này được giải thích bởi thanh khoản tăng mạnh từ sự cung ứng tiền qua thị trường mở, tái cấp vốn, hoán đổi lãi suất,… của Ngân hàng Nhà nước ở mức lãi suất từ 7 – 8%/năm. Mặt khác Thông tư 13/2010/TT-NHNN về các tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn trong hoạt động của các TCTD đã làm cho vốn trên thị trường liên ngân hàng nguội lạnh.

Nguồn: An update on Vietnam’s Recent Economic Developments – WorldBank

Chỉ số giá tiêu dùng có thể tiếp tục được giữ ổn định trong kiểm soát khi các ban ngành tích cực kiểm soát giá và sử dụng quỹ bình ổn thị trường can thiệp, giá xăng dầu có thể tạm yên khi khó có khả năng tăng mạnh, giá điện và nước có thể sẽ tăng sang năm sau.

Đến tháng 6, có thể thấy được tình hình kinh tế vĩ mô đã ổn định trở lại. Trước đó, từ năm 2009 đến hết quý I/2010, tình hình trong nước vẫn ở tình trạng căng thẳng: thanh khoản ngân hàng có vấn đề, lãi suất huy động và cho vay tăng mạnh, sự can thiệp về trần lãi suất huy động (10,50% rồi 11,5%/năm) thể hiện điều này. Tình trạng căng thẳng tỷ giá và khan hiếm USD khiến Ngân hàng Nhà nước yêu cầu doanh nghiệp bán ngoại tệ (Thông tư 26/TT-NHNN), đông thời, cũng tham gia bình ổn bằng cách bán ngoại tệ cho ngân hàng nếu cần tiết, điều này đã được giải tỏa và tỷ giá đã ổn định trở lại, lãi suất huy động USD đang giảm mạnh, lãi suất vàng về mức 0 (sàn vàng ngưng hoạt động), điều này càng củng cố thị trường USD khi động cơ găm giữu USD để đầu cơ đã giảm xuống, ngân hàng Nhà nước đã đi bước đi cần thiết khi cố đẩy lãi suât VND xuống đó là đồng thời giảm lãi suất USD xuống bằng quy định về tiền gửi USD của tổ chức không quá 1% (Thông tư số 03 /2010/TT-NHNN), tiếp đó là việc thắt chặt cho vay USD đối với một số lĩnh vực (công văn số 4186/NHNN-CSTT).

Hoạt động huy động vốn thông cho phát triển qua phát hành Trái phiếu kho bạc ngày càng tích cực hơn. Tuy 5 tháng đầu năm, mới huy động được 26% kế hoạch, nhưng trong những phiên đấu thầu đầu tháng 6, thành công đã xuất hiện với những kỳ hạn dài như huy động được 2400 tỷ trái phiếu 5 năm (kế hoạch 5.000 tỷ trái phiếu phát hành theo lô lớn), hay 2.000 tỷ kỳ hạn 3 năm và 5 năm với lợi suât giảm dần. Tới đây, Kho bạc Nhà nước sẽ tiếp tục huy động các kỳ hạn dài từ 3 đến 5 năm (lãi suất thị trường giảm cùng với một phần lớn khoản nợ sẽ đáo hạn trong năm 2012 – huy động dài hạn là tốt nhất)

Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục linh hoạt trong chỉ đạo các chính sách nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế đạt mục tiêu và lạm phát ở mức kiểm soát. Đó là tiếp tục mở rộng tín dụng (mục tiêu tăng trưởng 25%), giảm mặt bằng lãi suất thị trường bằng việc kiểm tra, giám sát sự đua tranh huy động vốn của các NHTM, đồng thời, tích cực sử dụng thị trường mở và các công cụ khác nhằm tăng thanh khoản cho thị trường. Giám sát chặt chẽ hoạt động quản lý rủi ro hoạt động ngân hàng như rủi thanh khoản, an toàn vốn, rủi ro lãi suất, tín dụng theo quy định trong Thông tư 13 đối với các TCTD. Đảm bảo sự ổn định của thị trường tiền tệ.

Cung tiền và thanh khoản liên quan mật thiết với nhau, có thể vì sự ổn định của thị trường tiền tệ và ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước đã tạo bước ngoặt trong việc quản lý rủi ro này khi ban hành Thông tư 13, đây là sự “thắt chặt” thực sự khi quy định cụ thể về các chỉ số thanh khoản, thanh toán, an toàn vốn nâng cao, tỷ lệ cho vay trên huy động được xác định và dòng vốn nóng trên thị trường liên ngân hàng được hạn chế. Khuyến khích các ngân hàng cơ cấu lại tài sản, theo đó nâng cao tỷ trọng nắm giữ các loại giấy tờ có giá, nâng cao khả năng quản lý rủi ro bằng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống Stress Testing trước các tình hình xấu nhất.

Thị trường ngân hàng trong thời gian tới có thể là khó khăn về thu nhập (tài sản sinh lợi giảm, thanh khoản duy trì cao, áp lực tăng vốn và lợi nhuận trên vốn phải gia tăng). Nhưng có thể nói điều này sẽ tạo sự ổn định và vững chải hơn trước những cú sốc của thị trường.

Thị trường ngoại tệ sẽ có những điều chỉnh cần thiết nếu như nhập siêu tiếp tục gia tăng mạnh làm mất cân đối cán cân thanh toán, điều này có thể đi đến việc giảm giá VNĐ.

Nguy cơ và tác động lớn nhất vẫn nằm ở thế “thượng tầng” đó là điều hành cung tiền trước những diễn biến của lạm phát và tăng trưởng GDP và tạo sự ổn định cho phát triển kinh tế, thể hiện rõ rất là sự ổn định của thị trường tiền tệ. Mặc dù “hạ tầng – hệ thống ngân hàng” đãng có sự chuẩn bị, nhưng với sự điều hành Chính sách tiền tệ theo mục tiêu lạm phát dựa trên “chốt chặn” là tăng trưởng kinh tế đã được ấn định dẫn đến có thể “chạy” theo tốc độ tăng trưởng mà gia tăng cung tiền, khi nguy cơ lạm phát xuất hiện thì thắt chặt đột ngột gây nên sự mất ổn định, chính điều này đã đẩy doanh nghiệp sản xuất và hệ thống ngân hàng vào tình trạng khó khăn, các kế hoạch dài hạn đều bị đặt trong tình trạng thiếu ổn định, không bền vững, thiếu sự nhất quán. Thí dụ sự giảm đột ngột của cung tiền thông qua việc hạn chế hoặc rút vốn trên thị trường mở sẽ dẫn đến sự “chết chung” của các ngân hàng khi “đã” hoặc “bị” nắm giữ quá nhiều giấy tờ có giá! Mọi sự “tốt đẹp” của thị trường (lãi suất thỏa thuận, tỷ giá ổn định, …) đều có thể sẽ phải bị phá bỏ trước những quy định hành chính khi chưa hình thành được bộ khung lãi suất điều hành chủ đạo.

Cung tiền M1 của một số nước

Đây là hạn chế của chính sách tiền tệ theo Inflation target? (năm nay tăng trưởng tín dụng được “ấn định” ở mức 25% nhưng cũng có thể tăng lên nếu lạm phát không vượt quá cao và nhằm kích thích sản xuất tăng trưởng kinh tế như đã làm trong năm 2009: đầu năm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng chỉ ở mứ 20 – 25%, xong cuối năm con số cụ thể đã nhiều lần điều chỉnh tăng là 37,73%!) Khác với chính sách theo tăng trưởng GDP – điều hành theo cung tiền mục tiêu (theo tốc độ tăng trưởng của GDP) như Thái Lan, Phillipins hay Indonesia sử dụng. Tất cả đều thể hiện ở khả năng dự báo!

Trên Blog của Tiến sỹ Lê Hồng Giang có một số liệu rất đáng chú ý về sự “giật cục” (theo ý tác giả) về việc điều hành cung tiền (cơ bản) M1.

Tăng M1 của Việt Nam so với một số nước

M1 của ba nước trên rất ổn định so với GDP (xoay quanh mốc 10%), trong khi của Việt Nam, M1 tăng rất mạnh (GDP tăng chậm khiến ICOR của chúng ta ngày càng tăng – năm 2007 là 5,5; 2008 là 6,98; 2009 ước ở mức 8,56)) rồi giảm đột ngột và đang tăng trở lại! (không biết điều gì sẽ xảy ra kế tiếp), có thể chính điều này đã làm cho hệ thống ngân hàng có nhiều phen “thập tử nhất sinh” trong năm 2009 và đầu năm 2010!

Update 24/06/2010:

CPI tháng 6 tăng 0,22% so với tháng 5, tăng 4, 78% so với cuối năm 2009 và tăng 8,69% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn GSO

GDP có khẳ năng tăng 6,20 – 6,40% trong quý II/2010, 6 tháng đầu năm ước đạt 6 – 6,10% theo Bộ KH&ĐT công bố.

Advertisements