Tags

, , , , ,

Market Risk Premium là một nhân tố quan trọng có lẽ ai cũng sử dụng để định giá vốn cổ phần (dùng để xác định Re, WACC). Nó thể hiện mức độ bù đắp rủi ro giữa quyết định đầu tư vào tài sản vốn cổ phần so với việc đầu tư vào một tài sản khác không rủi ro hoặc rất ít rủi ro (như TPCP). Nếu mức độ bù đắp theo kỳ vọng và yêu cầu không đủ lớn, người ta sẽ không quyết định đầu tư.

MRP được nêu trong mô hình Định giá Tài sản vốn (CAPM) như là phần chênh lệch giữa lợi suất danh mục thị trường và lợi suất phi rủi ro. Theo từng thời kỳ, độ biến động (volatility) mà yêu cầu này có thể cao hay thấp. Ở Mỹ, người ta thường lấy danh mục thị trường như chỉ số S&P500, đo lợi suất bình quân trong nhiều năm của nó, lợi suất phi rủi ro có thể lấy Lợi suất Trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm bình quân trong thời gian đủ dài.

Trong một survey mới đây của giáo sư Pablo và Javier ở EISE Business School, ông ta khảo sát mức độ đòi hỏi (required) về MRP ở một số nước đối với các chuyên gia phân tích, các công ty và các giáo sư (giới nghiên cứu?). Kết quả cho thấy, MRP năm 2010 (sau đại khủng hoảng: Great Financial Crisis – GFC)) giảm nhẹ so với năm 2009 và Việt Nam có MRP rất cao là 13,3%!


Trước giờ, tôi vẫn lấy mức từ 8 – 10% đối với các nước mới nỗi Việt Nam cũng thế!

Nếu như vậy, khi đầu tư vào vốn ở Việt Nam, họ yêu cầu mức bù rủi ro là 13,3% nữa nếu không sẽ chỉ đầu tư vào các tài sản rủi ro rất ít như Trái phiếu hoặc chuyển sang nước khác? Lợi suất TPCP của Việt Nam hiện nay kỳ hạn 2 năm cũng ở mức hơn 11%, như vậy, nếu beta riêng lẽ của từng loại vốn cổ phần giả sử là 1 thì Re tức lợi suất trên vốn cổ phần phải từ 24,3% trở lên?! (Mô hình CAPM: Re = beta*MRP + Rf, trong đó, Rf là lợi suất phi rủi ro như TPCP, còn MRP được đo như là Rm – Rf với Rm là suất sinh lợi của thị trường)

Tôi thử tính toán, nếu sử dụng VNIndex như là danh mục thị trường và Rm là lợi nhuận bình quân của danh mục này thì Rm khoảng 17,2%/năm (tính từ tháng 1/2001 – 3/2010), Rf xem như là lợi suất TPCP (Bond yield) loại 2 năm (loại này active hơn loại có kỳ hạn dài hơn – ở VN) là 8,9%/năm (tính bình quân hàng năm từ năm 2001), như vậy, MRP_VN = 8,30%/năm. Có vẽ còn thấp so với mức khảo sát trên.

Một cách nữa, trong thời đại đầu tư toàn cầu, việc đầu tư ở các quốc gia khác nhau là rất bình thường và dễ dàng, do đó, ta có thể tham khảo ở thị trường Mỹ, sau đó, sẽ cộng thêm phần bù Rủi ro Quốc gia và Rủi ro ngoại hối khi chuyển sang cơ hội đầu tư ở Việt Nam.

Ở Mỹ, Rm được tính bình quân của danh mục S&P500 từ 1928 – 2009 là 11,27%/năm (số liệu của Damodaran), Rf ở mức 5,24%/năm (bình quân lợi suất TPCP Mỹ kỳ hạn 10 năm giai đoạn 1928 – 2009), như vậy MRP_Mỹ = 6,03%/năm (con số khảo sát là 5,20% đối với các chuyên gia phân tích, 5,3 đối với các công ty và 6 đối với giới nghiên cứu).

Khi chuyển vào đầu tư ở Việt Nam sẽ chịu rủi ro quốc gia và rủi ro tỷ giá, do đó, phải điều chỉnh yêu cầu lợi suất: MRP_VN* = MRP_Mỹ + Rn + Rx, với Rn là rủi ro quốc gia, ở đây, theo Damodaran, Việt Nam đang được Moody’s xếp hạng Ba3 nên sẽ cộng thêm 525Bps, tức Rn = 5,25%, Rx là rủi ro tỷ giá có thể lấy khả năng mất giá của VND là 5% (chênh lệch LS huy động VND và USD ở VN cũng ở mức tương được hoặc cao hơn một chút!).

Vậy, MRP_VN* = 6,03 + 5,25 + 5,0 = 16,28%, cao hơn mức trên.

Ở VN, ta thường tham khảo MRP chứ ít khi tự tính toán, vì thị trường VN chưa đủ dài và độ ổn định để đánh giá mức lợi suất cũng như chưa có danh mục đại diện cho danh mục thị trường (Vnindex hay Hastcindex chưa đủ lớn và đa dạng)

About these ads