Thuế Thu nhập và lạm phátMấy hôm nay đọc thấy nhiều bài viết về thuế: thuế nhà đất, thuế thu nhập cá nhân, nhưng không đi vào chi tiết tính thuế mà đi vào vấn đề triết lý và tính logic của nó. Khi xây dựng khung thuế, các nhà làm luật, các nhà kinh tế tính toán rất nhiều yếu tố liên quan, đó là tính hợp lý giữa khoản thu (của Nhà nước) và chi (của người dân) sao cho không quá “nặng” mà cũng không “nhẹ” (giảm thu ngân sách), sao cho kích thích mọi người dân đầu tư tạo lợi nhuận, sao cho tạo sự công bằng trong phân phối thu nhập, rồi sao cho dễ thu, dễ quản lý, dễ tính toán và tính toán đúng bản chất của từng thu nhập, từng mục đích sử dụng và xử lý được vấn đề nộp thiếu, trốn thuế.

Mức đánh thuế thì linh hoạt (như Thuế thu nhập cá nhân – luỹ tiến theo thu nhập), nhưng lại cố định về mức phải đóng thuế, mức giảm trừ gia cảnh (trong thuế thu nhập cá nhân), khung giá và mức thuế đánh trên nhà đất, …

Nhưng hình như thiếu hay ít đề cập đến một vấn đề, mà chính bản thân nó có thể làm tăng gánh nặng nộp thuế, đặc biệt là người có thu nhập thấp và nó luôn luôn biến động, đó là gánh nặng lạm phát, lạm phát gây nên gánh nặng về mức thu nhập và nộp thuế.

Một vấn đề cần lưu ý là thời gian thông qua luật thuế thu nhập cá nhân cách xa thời gian hiệu lực (hiệu lực ngày 01/01/2009), nhưng trong năm 2008 là năm có lạm phát trên 20% lại không đề cập đến vấn đề này? Cũng có ý kiến cho rằng, không tính “đủ” yếu tố lạm phát vào thuế, hay lạm phát tăng cao thì giảm thuế bởi vì Nhà nước, Chính phủ cũng khó khăn khi lạm phát cao, khi khó khăn, Chính phủ cũng chi nhiều cho người nghèo, trong khi ở nước ta, số người đóng thuế là rất ít (vài trăm nghìn người) so với trên 85 triệu dân!

Thuế Lạm phát – Inflation Tax

Lạm phát: Định nghĩa được nhiều người chấp nhận cho rằng lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá tổng quát.

Việt Nam trong những năm qua cũng sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để tính tỷ lệ lạm phát và sử dụng nó cho mục đích điều hành chính sách tiền tệ. (thực chất có nhiều chỉ số đo lạm phát như PPI, CLI, PCEPI, GDP Deflater,…)

Về mặt tính toán, chỉ số giá tiêu dùng, CPI thể hiện như sau:
Trong đó, Trong đó, qi là rỗ hàng hoá và pi là giá của các mặt hàng, t là năm hiện hành và 0 là năm gốc.

Công thức tính tỷ lệ lạm phát (i): i = {CPIt – CPI(t-1)}/CPI(t-1)

CPIt: chỉ số giá tiêu dùng thời điểm xác định t
CPI(t-1): chỉ số giá tiêu dùng thời điểm trước t (kỳ trước)

Lạm phát là “thuế” nhưng không phải thuế. Gọi là Thuế lạm phát (inflation tax) bởi vì lạm phát làm thu nhập của cá nhân giảm tương đối giống như khi bị đánh thuế, nên có thuật ngữ “thuế lạm phát” hàm ý một trong những hậu quả của lạm phát. Và như thế, vô hình chung, “mức thuế” của người dân trong năm có lạm phát cao tất nhiên sẽ lớn! Việc thu nhập danh nghĩa của người dân tăng lên theo lạm phát, tuy nhiên, thu nhập thực tế có thể không đổi thì cá nhân phải nộp thuế thu nhập trên cả phần chênh lệch giữa thu nhập danh nghĩa và thu nhập thực tế.

Tác động của lạm phát đến thuế thu nhập:

Công thức tính Thuế lạm phát (Ti): Ti = i/(1+i) với i là tỷ lệ lạm phát

Ví dụ: CPI năm 2000 là 120, CPI năm 1999 là 110, tỷ lệ lạm phát i = (120 – 110)/110 = 9,09%

Theo đó, thuế lạm phát sẽ là Ti = 9,09%/(1+9,09%) = 8,33%
Như vậy, mức thuế mà người dân phải “đóng” thêm do lạm phát là 8,33% (làm giảm thu nhập của người dân)

Tuy nhiên, đây chỉ là công thức áp dụng cho “khung thuế cố định – không thay đổi mức thuế suất)

Đối với thuế thu nhập có mức thuế suất thay đổi (như thuế luỹ tiến), tác động của lạm phát càng lớn hơn khi có hiện tượng chuyển nhóm thu nhập (do thu nhập danh nghĩa tăng lên theo lạm phát trong khi thu nhập thực tế không thay đổi, làm mức thuế suất thay đổi theo thu nhập danh nghĩa và có thể sẽ chuyển nhóm (braket creep)).

Ví dụ: Anh A có thu nhập năm 1990 là 100 triệu đánh bị đánh thuế với khung thuế là 10%, số thuế là 10triệu (giả sử khung thuế 10% áp dụng cho thu nhập từ 100 triệu trở xuống, 20% đối với thu nhập từ 200 triệu trở xuống)
Qua năm 2000, A a có thu nhập (danh nghĩa) là 200 triệu (tuy nhiên, thu nhập thực tế của anh A không đổi do lạm phát tăng cao, 100% trong 10 năm), nhưng anh A lại bị đánh thuế là 40triệu (20%x200) chứ không phải là 10%x200), rõ ràng anh A đã bị chuyển nhóm đánh thuế.

Mặt khác, các khoản miễn, giảm và hoàn thuế theo giá trị danh nghĩa. Giá trị thực của các khoản ưu đãi về thuế này giảm đi khi có lạm phát và do vậy làm tăng nghĩa vụ thuế.

Thuế – Mới quan tâm đến số lượng mà chưa quan tâm đến chất lượng

Như đã đề cập ở trên, khung thu thuế là “cố định” trong khi thu nhập có thể là “ảo” do sự hao mòn của lạm phát: thu nhập thực có thể là không đổi, trong khi đó, thu nhập danh nghĩa đã tăng lên. Một điểm cần lưu ý là, trong quy định về khung lương, thì luôn luôn hướng đến sự linh hoạt có thể, vấn đề tăng mức giá lương của Chính phủ có tính đến tùy theo lạm phát, thì tại sao, vấn đề thu thuế lại không tính “đủ” yếu tố này vào? Trong thời gian ngắn, thì không sao, nhưng trong thời gian dài (lạm phát tích luỹ) còn mức thu vẫn vậy thì tác động là rất lớn!

Thiết nghĩ, cũng nên linh hoạt mức thu thuế theo lạm phát một cách trực tiếp (giảm mức thuế theo tỷ lệ lạm phát) hoặc gián tiếp (tính thuế thu nhập thông qua một số giá trị thu nhập, mức sống có thể đo lường được như lương tối thiểu (vì lương tối thiểu ít nhất cũng được điều chỉnh theo lạm phát)), áp dụng khung lương tối thiểu cho khoản giảm trừ.., đồng thời, cần có sự linh hoạt trong khung thuế luỹ tiến để tránh tác động chuyển nhóm thuế!

Nghiatq

Advertisements