Suy thoái kinh tế đang diễn ra sâu rộng trên thế giới. Nước Mỹ – hiện vẫn nằm trong tâm bão của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính – đang tiếp tục đúc rút các bài học kinh nghiệm.
Bài viết này trình bày những bài học quan trọng trong giám sát ngân hàng được ông Ben S Bernanke – Chủ tịch Hội đồng Thống đốc của Cục Dữ trữ liên bang Mỹ (Fed) đưa ra tại Hội thảo về Cơ cấu ngân hàng và cạnh tranh của Ngân hàng Fed Chicago vào ngày 07 tháng 5 vừa qua.

Từ khi bắt đầu khủng hoảng, Fed và các cơ quan giám sát khác của Mỹ đã hợp tác với các cơ quan giám sát nước ngoài để tìm ra nguyên nhân khủng hoảng và những bài học của nó. Sự phối hợp quốc tế đã giúp các cơ quan giám sát Mỹ học hỏi kinh nghiệm quốc tế và giúp so sánh hoạt động của các tổ chức tư nhân Mỹ với các tổ chức tài chính toàn cầu.

Fed đang xem xét lại tất cả các mặt hoạt động giám sát của mình. Từ cuối năm ngoái, với sự tham gia của các Uỷ viên Hội đồng Thống đốc, Chủ tịch các Ngân hàng Dự trữ tại các tiểu bang và nhân viên trong hệ thống, Phó Chủ tịch Kohn đã chỉ đạo thực hiện một nghiên cứu nhằm đưa ra các khuyến nghị nâng cao hiệu quả của Fed trong công tác giám sát an toàn và bảo vệ người tiêu dùng. Các phân tích đã tái khẳng định rằng an toàn vốn, xây dựng kế hoạch thanh khoản hiệu quả và tăng cường quản lý rủi ro là những yếu tố cần thiết nhất để hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn và phát triển tốt. Khủng hoảng cho thấy một số tổ chức tín dụng đã có những thiếu sót nghiêm trọng ở một hoặc các mặt nêu trên. Cuộc khủng hoảng cũng đã nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường tính thận trọng và hiệu lực của các cơ quan giám sát nhằm đảm bảo rằng các tiêu chuẩn đặt ra phải được thực hiện.

1. Bài học về tăng cường quản lý vốn, quản lý thanh khoản và quản lý rủi ro:

Quản lý vốn:

Kể từ khi bắt đầu khủng hoảng, các cơ quan giám sát Mỹ đã thực hiện giám sát vốn rất chặt chẽ. Fed đã thực hiện giám sát chặt chẽ tỷ lệ vốn của các tổ chức tài chính tương ứng với mức độ rủi ro của tài sản và trao đổi đánh giá với các nhà quản lý cấp cao của các tổ chức này. Fed cũng đang xem xét lại các quy định về quản lý vốn của mình. Chẳng hạn như, vào đầu năm 2009, Fed đã ban hành Hướng dẫn dành cho các công ty quản lý ngân hàng trong giám sát cổ tức, hoạt động mua lại vốn, hoàn trả vốn (công ty quản lý ngân hàng là công ty quản lý một hoặc nhiều ngân hàng).

Fed đang làm đầu mối thực hiện Chương trình Đánh giá Giám sát Vốn liên ngành. Chương trình này nhằm đảm bảo rằng các tổ chức ngân hàng lớn nhất và có tầm quan trọng ảnh hưởng tới hệ thống ngân hàng nhất có đủ nguồn vốn và có thể duy trì hoạt động cho vay ngay cả khi các điều kiện kinh tế vĩ mô trở nên tồi tệ hơn. Hơn 150 nhà kiểm tra, giám sát, và các nhà kinh tế học của Fed, Cơ quan Quản lý tiền tệ, và Công ty Bảo hiểm tiền gửi Fed đã hợp tác để kiểm tra và đánh giá khả năng lãi lỗ của 19 tổ chức lớn, là những đơn vị nắm giữ hai phần ba tài sản của hệ thống ngân hàng Mỹ. Việc đánh giá mang tính toàn diện, nghiêm túc và có sự phối hợp cao giữa các cơ quan giám sát. Fed sẽ sử dụng các kết quả đánh giá này để nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, giám sát trong tương lai.

Quản lý thanh khoản

Khủng hoảng cũng cho thấy tầm quan trọng của việc quản lý thanh khoản hiệu quả. Hàng ngày, Fed theo dõi trạng thái thanh khoản của các tổ chức tài chính lớn và thảo luận với quản lý cấp cao của các tổ chức này về các chiến lược thanh khoản, các diễn biến chính của thị trường và rủi ro thanh khoản. Qua hơn một năm rưỡi, Fed thấy rằng để có được khả năng thanh khoản đầy đủ đòi hỏi một tổ chức phải có nhiều hơn những tài sản có tính thanh khoản cao so với những tài sản mà các ngân hàng nắm giữ trong điều kiện bình thường; các tổ chức tài chính còn phải dự tính đến trạng thái thanh khoản khi thị trường rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Fed cũng yêu cầu các tổ chức phải lưu tâm xem xét những rủi ro phát sinh từ nhu cầu thanh khoản cho các khoản ngoại bảng.

Quản lý rủi ro

Sau vốn và thanh khoản thì nhân tố chính thứ ba đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn và lành mạnh là quản lý rủi ro hiệu quả. Khủng hoảng đã bộc lộ sự yếu kém của hệ thống quản lý rủi ro của nhiều tổ chức tài chính. Fed đang tăng cường nỗ lực làm việc với các ngân hàng để nâng cao hoạt động xác định rủi ro của các tổ chức này. Chẳng hạn như, Fed nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thử độ căng nhằm phát hiện những rủi ro không nhận thấy được bằng các mô hình thống kê thông thường, ví dụ, những biến động lớn bất thường của thị trường, giảm thanh khoản, tình hình khó khăn kéo dài của thị trường, hoặc những thay đổi cơ cấu trong thị trường.

Đổi mới tài chính có thể làm lợi cho người tiêu dùng, cho hệ thống tài chính, và lớn hơn là làm lợi cho nền kinh tế; nhưng nó cũng có những rủi ro và những rủi ro này phải được nhìn nhận đúng. Đổi mới tài chính ở một số lĩnh vực ví dụ như đổi mới các sản phẩm tín dụng cơ cấu và cho vay thế chấp ở một mức độ nào đó đã đẩy nhanh cuộc khủng hoảng hiện nay. Do đó, Fed đang yêu cầu các ngân hàng đánh giá toàn diện hơn hậu quả không được dự tính trước có thể xảy ra khi sử dụng các công cụ tài chính mới cũng như khả năng hoạt động của các công cụ tài chính này trong điều kiện thị trường không thuận lợi.

Khi khủng hoảng nổ ra, Fed đã tăng cường giám sát các tổ chức tài chính về nội dung quản lý rủi ro tín dụng đối tác, và yêu cầu các tổ chức tài chính nâng cao nhận thức và hiểu biết về các mối liên hệ và các tác động rủi ro chủ chốt trong hệ thống tài chính. Các tổ chức này phải phân tích hành động tự vệ của họ trong giai đoạn khó khăn có thể gây áp lực lên các đối tác chính như thế nào, đặc biệt là khi các thành viên khác trên thị trường cũng thực hiện những biện pháp tương tự.

Một phần quan trọng trong quản lý rủi ro là việc nhìn nhận mối quan hệ giữa chế độ khuyến khích nhân viên và việc chấp nhận rủi ro, chẳng hạn như trong việc xây dựng và thực hiện chế độ lương thưởng. Tiền thưởng và các khoản đền bù khác phải tạo thành động lực cho nhân viên ở các cấp làm việc theo hướng tăng cường sự phát triển dài hạn của tổ chức tài chính. Fed đã làm việc tại các diễn đàn quốc tế về vấn đề tiền thưởng và đền bù; và kết quả là tháng trước Ban Ổn định Tài chính đã ban hành văn bản Những nguyên tắc mới về chế độ lương thưởng tốt. Có thể rút ra một bài học quan trọng từ khủng hoảng là cơ cấu lương thưởng và tác động của nó lên động cơ chấp nhận rủi ro của nhân viên là một vấn đề liên quan đến sự phát triển an toàn và lành mạnh.

Một trong những bài học chính rút ra từ khủng hoảng là thông tin trong nội bộ về các rủi ro phải kịp thời và hiệu quả. Fed đang đặt ưu tiên cao vào việc đảm bảo rằng Hội đồng quản trị và Ban điều hành của các tổ chức tín dụng phải được báo cáo đầy đủ về các rủi ro mà tổ chức của họ phải đương đầu và họ phải tham gia tích cực vào việc quản lý các rủi ro đó.

Thông tin giám sát

Khủng hoảng đã cho thấy yêu cầu phải sửa đổi cơ chế giám sát và thông tin nội bộ của Fed. Fed đã cập nhật và đẩy mạnh quá trình phổ biến thông tin giám sát trong hệ thống của mình nhằm thiết lập các ưu tiên giám sát, nhìn nhận các vấn đề nổi lên và đưa ra các chỉ đạo giám sát kịp thời. Trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng, gần đây Fed đã điều chỉnh Chương trình kiểm tra tuân thủ nhằm đảm bảo chương trình phù hợp hơn với những diễn biến và tình hình mới của thị trường.

Thực sự là trong những thời điểm tốt, khi rủi ro thấp và tình hình tài chính sáng sủa, các bên tham gia thị trường tài chính có thể trở nên lạc quan quá mức và phạm phải những sai lầm đắt giá. Một phần công việc của các nhà giám sát là phải ngăn chặn được xu hướng này. Muốn vậy, thông tin giám sát phải rõ ràng, có hiệu lực và được chuyển trực tiếp tới Hội đồng quản trị, Quản lý cấp cao để những vấn đề nổi cộm được quan tâm đúng mức và giải quyết thỏa đáng.

2. Bài học về giám sát tập đoàn

Khi xem xét các bài học từ khủng hoảng thì một vấn đề nữa được quan tâm là vai trò của giám sát tập đoàn. Khủng hoảng đã cho thấy việc quản lý rủi ro kịp thời và hiệu quả ở cấp độ cả tập đoàn thực sự quan trọng đối với các tổ chức tài chính lớn, và tất cả các tổ chức tài chính có tầm ảnh hưởng quan trọng tới hệ thống phải được giám sát chặt chẽ ở mức tập đoàn.

Theo Đạo luật Gramm-Leach-Bliley năm 1999, Fed có chức năng giám sát tập đoàn tất cả các công ty quản lý ngân hàng bao gồm cả các công ty quản lý tài chính (công ty quản lý ngân hàng có đủ điều kiện trở thành công ty quản lý tài chính nếu ngân hàng con của công ty đó có vốn đủ lớn và được quản lý tốt). Fed đã thực hiện vai trò này rất nghiêm túc. Trước khi bắt đầu khủng hoảng, Fed đã tăng cường giám sát các công ty quản lý ngân hàng trong khuôn khổ của Đạo luật. Năm ngoái, Fed đã ban hành Hướng dẫn Giám sát tập đoàn tổng thể. Hướng dẫn quy định các thanh tra viên tập trung vào các lĩnh vực chính khi giám sát các tập đoàn lớn có nhiều công ty con. Chẳng hạn như thanh tra viên phải đặc biệt chú ý đến các hoạt động có khả năng tác động đến không chỉ tập đoàn đó mà còn có thể ảnh hưởng đến toàn hệ thống tài chính.

Hướng dẫn này cũng cung cấp những chỉ dẫn rõ ràng hơn giúp các thanh tra viên đánh giá năng lực của một tổ chức ngân hàng nhằm xác định và quản lý rủi ro của toàn tổ chức đó. Chẳng hạn, quá trình đánh giá việc quản lý rủi ro tín dụng của cả tập đoàn bắt đầu từ việc xem xét tổng thể ở mức tập đoàn, sau đó sẽ xem xét đến từng hoạt động, như hoạt động tín dụng bán lẻ hoặc cho vay thế chấp, nhằm đảm bảo rằng các hoạt động này được quản lý theo những quy định chung áp dụng cho cả tập đoàn. Hướng dẫn cũng tái khẳng định rằng các thanh tra viên phải đánh giá các điều kiện tài chính và rủi ro của các công ty con phi ngân hàng của một công ty quản lý ngân hàng nhằm phát hiện khả năng những công ty con này có tác động không thuận tới các ngân hàng chi nhánh hoặc tới cả tập đoàn.

Giám sát tập đoàn cũng nâng cao khả năng đánh giá của Fed đối với năng lực tuân thủ quy định, quy chế và pháp luật của các tổ chức. Năm ngoái, Fed đã ban hành Hướng dẫn giám sát đối với rủi ro tuân thủ.

Theo các điều khoản của Đạo luật Gramm-Leach-Bliley, Fed với tư cách là cơ quan giám sát mức tập đoàn bị giới hạn khả năng thực hiện kiểm tra, xây dựng báo cáo hoặc thực hiện các nghiệp vụ đối với các công ty con chịu sự giám sát của cơ quan quản lý khác. Tuân thủ theo các quy định của Đạo luật, Fed đã hợp tác với các cơ quan quản lý khác, và khi có thể Fed sử dụng thông tin và các phân tích mà những cơ quan này cung cấp. Fed đã xây dựng được mối quan hệ tốt với các cơ quan quản lý khác và sẽ tiếp tục tăng cường mối quan hệ này trong tương lai. Hướng dẫn giám sát tập đoàn cũng làm rõ những trường hợp mà Fed phải thực hiện vai trò tích cực hơn với tư cách là một cơ quan giám sát tập đoàn.

Tuy nhiên, những hạn chế trong luật hiện thời đặt ra những thách thức đối với giám sát tập đoàn, chẳng hạn như sự khác nhau về cách thức giám sát giữa các cơ quan giám sát ngân hàng và các cơ quan quản lý bảo hiểm, chứng khoán hay sự khác nhau về thời gian giám sát, nguồn và ưu tiên giám sát. Xem xét cơ cấu tài chính của Mỹ, Fed hy vọng rằng Quốc hội sẽ xem xét sửa đổi các điều khoản của Đạo luật Gramm-Leach-Bliley để giúp việc giám sát tập đoàn có đủ các công cụ và thẩm quyền cần thiết thực hiện giám sát và giải quyết các mối lo ngại về an toàn và lành mạnh trong tất cả các bộ phận của một tổ chức.

3. Bài học về ổn định tài chính:

Phần trên thảo luận chính sách giám sát nhằm đảm bảo sự ổn định của từng tổ chức tài chính riêng lẻ. Tuy nhiên, Fed có mục tiêu lớn hơn là tăng cường sự ổn định của cả hệ thống tài chính. Việc giám sát từng tổ chức tài chính và thúc đẩy sự ổn định của cả hệ thống tài chính là hai hoạt động hỗ trợ, bổ sung cho nhau.

Từ trước khủng hoảng, Fed đã làm việc với các tổ chức có dịch vụ hỗ trợ thương mại và hệ thống thanh toán; chẳng hạn như Ngân hàng Fed New York đã hợp tác với các cơ quan giám sát và các bên tham gia thị trường để hoàn thiện quy chế thanh toán các công cụ phái sinh trên thị trường không chính thức. Kết quả là đã nâng cao đáng kể tính chính xác và kịp thời của các thông tin thương mại. Cùng với các cơ quan khác, Fed đang xây dựng các mục tiêu và các tiêu chuẩn nghiêm ngặt trong hoạt động của các bên tham gia thị trường.

Hoạt động bảo vệ người tiêu dùng cũng đóng góp vào sự ổn định tài chính. Việc rất nhiều tổ chức tài chính bán nhiều sản phẩm tiêu dùng với tính phức tạp ngày càng tăng cho một bộ phận lớn dân chúng được coi là một trong những nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng hiện nay. Trong vòng một năm qua, Fed đã phổ biến nhiều thông tin mới về một loạt các sản phẩm tài chính, đáng chú ý nhất là thông tin về thẻ tín dụng. Hiện Fed đang nghiên cứu việc phổ biến các thông tin liên quan đến nghiệp vụ cho vay thế chấp. Tuy nhiên, kể cả việc phổ biến thông tin ra công chúng đã được thực hiện ở mức tốt nhất thì vẫn có thể là chưa đủ. Vì vậy, Fed cũng đang xem xét lại các quy định về cho vay thế chấp và thẻ tín dụng để cấm một số nghiệp vụ.

Khả năng tăng cường ổn định tài chính của Fed phụ thuộc vào đội ngũ nhân viên có hiểu biết, kỹ năng và chuyên môn thuộc nhiều lĩnh vực. Fed thường sử dụng cách tiếp cận đa ngành để giải quyết vấn đề và điều này giúp Fed có được cách nhìn nhận chính xác hơn đối với các hoạt động tài chính và các rủi ro có thể xảy ra. Trong suốt khủng hoảng này, các thanh tra, chuyên gia kinh tế, kế toán, luật sư, và các chuyên gia về các vấn đề người tiêu dùng đang hợp tác chặt chẽ với nhau. Fed phải đảm bảo tiếp tục tăng cường hiểu biết và chuyên môn của đội ngũ chuyên gia để theo kịp những khó khăn và thách thức mà Fed sẽ phải đương đầu trong vai trò giám sát ngân hàng và trong cả nhiệm vụ truyền thống là ổn định hệ thống tài chính.

Trong tương lai, hoạt động giám sát theo phương thức thận trọng hơn và trên góc độ vĩ mô hơn, giải quyết những rủi ro cho cả hệ thống tài chính bên cạnh giám sát từng tổ chức riêng lẻ, sẽ giúp tăng cường ổn định tài chính vĩ mô. Quy chế giám sát phải tạo cho Fed khả năng giám sát, đánh giá và trong trường hợp cần thiết giải quyết những rủi ro tiềm tàng trong hệ thống tài chính.

Giám sát thận trọng vĩ mô gồm có các cấu phần:

+ Giám sát những nghiệp vụ có khả năng tác động lớn và có ảnh hưởng lan truyền nhanh tới hệ thống tài chính, chẳng hạn như nghiệp vụ cho vay thế chấp dưới chuẩn trong các tổ chức và các thị trường hơn là chỉ giám sát ở cấp độ từng công ty hoặc từng ngành.

+ Đánh giá những rủi ro hệ thống tiềm tàng trong hoạt động quản lý rủi ro, rủi ro do gia tăng đòn bẩy tài chính một cách rộng rãi hay do sự thay đổi của sản phẩm tài chính và thị trường.

+ Phân tích khả năng tác động lẫn nhau giữa các công ty tài chính hoặc giữa các công ty với thị trường, ví dụ như khả năng tác động qua lại giữa các công ty có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.

+ Đảm bảo rằng các tổ chức có tầm ảnh hưởng quan trọng tới hệ thống phải chịu sự giám sát tương xứng với mức rủi ro gây ra cho hệ thống tài chính trong trường hợp tổ chức này sụp đổ.

+ Đưa ra cơ chế giải quyết an toàn khi phải giải thể các tổ chức có tầm ảnh hưởng quan trọng tới hệ thống.

+ Đảm bảo rằng cơ sở hạ tầng tài chính trọng yếu, bao gồm cả các tổ chức thực hiện dịch vụ thương mại, thanh toán, phải vững chắc.

+ Nghiên cứu để giảm thiểu tác động cùng chiều chu kỳ kinh tế của các quy định về vốn và các quy định tiêu chuẩn khác.

+ Nhận biết những lỗ hổng pháp lý bao gồm cả những lỗ hổng trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng và nhà đầu tư, do những lỗ hổng này có thể gây ra những rủi ro cho toàn hệ thống.

Những diễn biến trong hai năm qua đã cho thấy những yếu kém trong quản lý rủi ro ở khu vực tư nhân và trong cả công tác giám sát hệ thống tài chính của cơ quan quản lý. Nhu cầu cấp thiết hiện nay là phải áp dụng bài học từ cuộc khủng hoảng để tăng cường hệ thống thể chế kể từ việc xây dựng các qui định pháp quy cho đến triển khai thực hiện trong hoạt động hàng ngày.
LAN HƯƠNG theo BIS.org
Nguồn vnba.org.vn