Trong dự thảo sửa đổi Nghị định 139 hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp có nhiều thảo luận về việc công bố cổ tức theo mệnh giá hay thị giá, như ý kiến của TS. Nguyễn Đình Cung. Tôi cũng muốn nói thêm về bản chất của cổ tức và cách công bố nó để thực hiện một số mục đích nào đó có lợi cho doanh nghiệp và nhà đầu tư. Tất nhiên, khi so sánh thi có nhiều cách – dùng chỉ số này chia cho chỉ số kia, nhưng, cái hay là làm sao để cho cả hai phía, doanh nghiệp và nhà đầu tư đều dễ dàng thực hiện, dễ dàng nhận thấy, chứ không phải làm khXem bài viếtó lẫn nhau.

Khi đầu tư vào một cổ phiếu, lợi nhuận bao gồm cổ tức (dividend) và sự chênh lệch giá (capital gain). Có một số nhà đầu tư, sự tăng trưởng từ giá cổ phiếu là yếu tố quan trọng hàng đầu và bên cạnh đó một số nhà đầu tư hoặc đầu tư tiềm năng họ cần có thu nhập từ hoạt động hàng ngày lại quan tâm chủ yếu đến cổ tức các nhà đầu tư tư nhân hoặc các quỹ đầu hưu trí,. Họ chú ý đến giá trị tuyệt đối của cổ tức trên cổ phiếu và quá trình tăng ổn định của cổ tức được trả. Do đó, các công ty thường không muốn phải giảm cổ tức hay cổ tức không ổn định, vì có thể ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư trong tương lai và do đó, giá của công ty trên thị trường cũng bị tác động xấu. Một công ty trong năm khó khăn thường quyết định trả cổ tức vượt quá mức lợi nhuận hơn là không trả cổ tức. Chính sách này chỉ áp dụng trong ngắn hạn và trong trường hợp có căn cứ để khẳng định rằng lợi nhuận nhanh chóng hồi phục và đạt mức cao hơn so với cổ tức.

Cổ tức trên một cổ phiếu (DPS), là một phần nhỏ trong thu nhập của cổ đông(EPS) được trả cho họ bằng tiền mặt, phần còn lại được gọi là lợi nhuận giữ lại để tiếp tục tài trợ hoạt động mở rộng của công ty. Chính sách cổ tức cũng là một chính sách tài trợ (Finance cash flow).Tuy nhiên, có một điều nghiễm nhiên là nguyên cổ tức chỉ được trích trả từ lợi nhuận,không được vay mượn hoặc bất kỳ nguồn tài trợ nào khác và chi trả loại thu nhập này, công ty cũng không nhất thiết phải chi trả phần thu nhập nằm trong cùng năm tương ứng với cổ tức chi trả, cũng có những trường hợp cổ tức chi trả vượt mức lợi nhuận trong năm và trong trường hợp đó, cổ tức được trả từ một phần thu nhập giữ lại của những năm trước đó như trường hợp khó khăn ở trên hoặc dòng tiền của công ty đã quá dồi dào. Bên cạnh đó, các công ty áp dụng các chính sách cổ tức nhằm đáp ứng các yêu cầu kinh doanh của mình. Điều đó phản ánh lĩnh vực kinh doanh mà họ đang hoạt động và chiến lược đang được áp dụng. Các công ty đang có tốc độ tăng trưởng cao cần một lượng tiền mặt lớn do đó hạn chế chi trả cổ tức. Ngược lại, công ty đã đi vào hoạt động ổn định lại chi trả một tỷ lệ lợi nhuận lớn hơn.

Từ những “thông lệ” như trên, có một Tỷ lệ đo lường mức độ duy trì mức độ chi trả cổ tức đó là tỷ lệ chi trả cổ tức (payout ratio) hay DPS/EPS. Bên cạnh những ý nghĩa trên, tỷ lệ chi trả cổ tức thấp còn cho thấy cổ tức này tương đối được đảm bảo khi vẫn có thể duy trì mức chi trả dù có sự sụt giảm lợi nhuận.

DPS/F và DPS/P

DPS/P: tỷ suất cổ tức còn gọi là dividend yield hay Lợi nhuận được chia trên giá cổ phiếu, nó biểu thị lợi nhuận mà công ty phải có được để thu hút nhà đầu tư, các nhà đầu tư thường dùng tỷ suất lợi nhuận này để so sánh giữa thu nhập từ cổ phiếu và các hình thức đầu tư tài sản khác. Các quỹ đầu tư thường cân bằng danh mục đầu tư của mình với sự chênh lệch giữa các hình thức đầu tư. Để làm điều này, họ cân nhắc sự thay đổi của tỷ suất lợi tức hàng ngày.

DPS/F: cổ tức trên mệnh giá hay tỷ lệ cổ tức, tỷ lệ này thể hiện dòng tiền cố định so với số tiền bỏ ra, do đó, nó rất quan trọng đối với nhà đầu tư quan tâm tới thu nhậptừ cổ tức cổ phiếu. Nó cho phép họ so sánh lượng tiền họ thu được khi họ đầu tư một số tiền cố định vào các cổ phiếu khác nhau hoặc so sánh với hình thức đầu tư khác, đó cũng là điều mong muốn của những quỹ trợ cấp.

Điều này đồng nghĩa với, cổ tức trên mệnh giá thể hiện sự thu hút các nhà đầu tư tiềm năng và đó là một phần của công ty, bên cạnh các nhà đầu tư như quỹ đầu tư – họ có thể thực hiện nhiều cách biến đổi để xem xét tỷ suất lợi nhuận đầu tư như DPS/price, DPS/Sale, DPS/Book value (giá trị sổ sách).

Như vậy, Để đảm bảo sự ổn định và rõ ràng, định hướng cụ thể thì các công ty thường công bố so với mệnh giá, tóm lại, một số ưu điểm điểm của cách này như sau và thế giới phần lớn theo thông lệ này.

- Duy trì ổn định chính sách cổ tức, duy trỳ khả năng chi trả cổ tức, và nhà đầu tư sẽ yêu thích hơn.Các chính sách đầu tư dài hạn sẽ được cổ đông dễ dàng thông qua

- Nhà đầu tư yêu thích sự ổn định từ thu nhập từ cổ tức (không kể nhà đầu tư lướt sóng hàng ngày) các nhà đầu tư khác muốn có một cổ tức cố định để so sánh, và do đó, theo mệnh giá sẽ có được sự cố định này.

- Cổ tức và cổ tức dự kiến, không một doanh nghiệp nào có khả năng dự đoán được giá cổ phiếu, do đó, cổ tức chi trả dự kiến có thể sẽ rất khác nhau giữa dự kiến đầu năm và thực tế chi trả. Nhà đầu tư cũng khó có sự dự kiến chính xác nếu tập trung vào cổ tức.

- Vấn đề quan trọng nhất có lẽ là chính sách tài trợ (Finance Cash Flow), cổ tức thuộc vào dòng tiền tài trợ, và tất nhiên, nó vô cùng quan trọng trong các kế hoạch tài chính (financial budget) trong tương lai của công ty, do đó, để cổ đông có thể dễ dàng tiếp cận, nó phải được nêu theo một tỷ lệ cố định.

Và cũng có thể thấy, cổ tức/thị giá (Dividend yield) chỉ được dùng để phân tích và cân đối đầu tư chứ không phải được dùng để công bố và tạo sự ổn định đối với những nhà đầu tư mong muốn sự ổn định. Và họ chính là người cần được bảo vệ hơn so với những nhà đầu tư phân tích sành sỏi như các quỹ.

About these ads